Bài viết

Trái cây tốt hay xấu đối với bệnh tiểu đường?

Liệu ăn trái cây tốt cho người tiểu đường không? Một số người lo lắng bị tăng cân nên thường hạn chế ăn. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng trái cây rất giàu các chất dinh dưỡng quan trọng, có thể mang lại lợi ích đối với sức khỏe khác với rau củ. 

Rau củ và trái cây có hiệu quả trong việc ngăn ngừa suy giảm chức năng nhận thức

Ăn đủ rau củ và trái cây sẽ có hiệu quả tốt trong việc ngăn ngừa suy giảm chức năng nhận thức. Một nghiên cứu của Trường Y tế Công cộng Harvard ở Hoa Kỳ cho thấy những người hấp thụ nhiều rau củ và trái cây ít bị suy giảm chức năng nhận thức hơn.

Ở nam giới ăn đủ các loại rau lá xanh, các loại rau củ màu vàng và đỏ, các loại quả mọng trong chế độ ăn hàng ngày, sự suy giảm chức năng nhận thức khi cao tuổi sẽ thấp hơn 34% so với nam giới không ăn đủ các loại thực phẩm này. Đây là kết quả trong một nghiên cứu theo dõi khoảng 20.000 nhân viên y tế trong 20 năm.

Trái cây và rau củ màu vàng xanh rất giàu vitamin A (β-carotene), vitamin C, các khoáng chất như kali và polyphenol. Các chất này có tác dụng chống oxy hóa và được cho là có hiệu quả trong việc ngăn ngừa xơ vữa động mạch.

Trái cây cũng là một nguồn cung cấp chất xơ. Chất xơ không chỉ dễ tiêu hóa và hấp thụ mà nó còn giúp làm chậm quá trình hấp thụ carbohydrate và ức chế sự hấp thụ lipid và cholesterol. Nếu hấp thụ một lượng lớn chất xơ, mọi người thường dễ có cảm giác no và điều này giúp ngăn ngừa tình trạng ăn quá nhiều và tình trạng béo phì.

Ăn trái cây có tốt cho người tiểu đường hay không?

Ăn trái cây không làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường. Nghiên cứu JPHC thực hiện theo dõi 50.000 người Nhật Bản trong 5 năm đã chỉ ra rằng những người ăn nhiều hoa quả không có nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường tuýp 2. Nghiên cứu này là một nghiên cứu đoàn hệ đa mục đích được thực hiện tại Nhật Bản để làm rõ mối quan hệ giữa lối sống như chế độ ăn uống và bệnh ung thư, bệnh tiểu đường tuýp 2, đột quỵ, nhồi máu cơ tim.

Những người ăn đủ rau củ và trái cây có thể giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường tuýp 2. Các vitamin và carotenoids chống oxy hóa có trong rau củ và trái cây được cho là có hiệu quả làm tăng độ nhạy cảm của insulin để giúp giảm mức đường huyết. Những người ăn nhiều hoa quả có nguy cơ bị đột quỵ và nhồi máu cơ tim thấp hơn so với những người ăn ít.

Không nên hấp thụ quá nhiều 

Bên cạnh những lợi ích mà trái cây mang lại thì trong trái cây cũng có chứa đường như glucose, fructose và sucrose. Mặc dù thành phần của đường thay đổi tùy thuộc vào loại, nhưng về nguyên tắc, 1g đường = 4 kcal năng lượng.

Dù fructose có trong trái cây không trực tiếp làm tăng lượng đường trong máu, nhưng fructose được chuyển đổi thành glucose nhờ gluconeogenesis có trong gan. Do đó, ăn quá nhiều hoa quả có thể dẫn đến suy giảm chuyển hóa glucose và tăng chất béo trung tính nên cần đặc biệt chú ý.

Vì các loại đường đơn có trong trái cây sẽ chuyển hóa thành năng lượng trong một thời gian ngắn, do đó nên ăn hoa quả vào bữa sáng và bữa trưa thay vì ăn vào buổi tối. Ngoài ra, vì trái cây đóng hộp, ngâm trong siro và sấy khô đặc biệt chứa nhiều đường nên cần hạn chế sử dụng những loại này càng nhiều càng tốt. Nước ép cũng được làm ngọt bằng cách thêm đường vào nên cần chú ý.

Dâu tây, kiwi, cam, đào, việt quất…là những loại có tương đối ít năng lượng và có lượng lớn chất xơ. Quýt, hồng ngâm, nho, chuối…là những loại tương đối giàu đường, vì vậy cần chú ý không ăn quá nhiều.

Trái cây giúp duy trì sức khỏe và sắc đẹp; có hiệu quả tốt giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường và phòng ngừa ung thư, xơ vữa động mạch. Vì vậy nên chú ý bổ sung vào chế độ ăn uống với lượng phù hợp mà không quá nhiều.

Nuôi thành công mạch máu người: giải pháp tiềm năng chữa trị bệnh tiểu đường

Nuôi thành công mạch máu người – Thành tựu này có thể tác động sâu sắc tới công cuộc nghiên cứu các bệnh về mạch, bao gồm cả bệnh tiểu đường.

Lần đầu tiên trong lịch sử, các nhà khoa học đã nuôi cấy được mạch máu người “hoàn hảo” trong phòng thí nghiệm. Thành quả này được xem là một bước ngoặt lớn, khi có tiềm năng trở thành giải pháp chữa trị cho hàng triệu bệnh nhân mắc tiểu đường và các bệnh liên quan đến mạch máu.

mô hình mạch máu não

Cụ thể, các chuyên gia từ Viện khoa học Áo kết hợp cùng Đại học British Columbia (Canada) đã tạo ra mạch máu từ tế bào gốc – dạng tế bào cơ bản có thể biến thành mọi tế bào khác trong cơ thể. Theo như báo cáo nghiên cứu, mạch máu nhân tạo ấy đã được thử cấy vào chuột, và nó vận hành một cách hoàn hảo, như bất kỳ mạch máu bình thường nào khác.

Có thể xây dựng mạch máu người dưới dạng organoids (phiên bản thu nhỏ và đơn giản hóa của một cơ quan được sản xuất trong ống nghiệm với 3 chiều kích thước) từ tế bào gốc là thành tựu khiến thay đổi cuộc chơi“, tác giả cao cấp của nghiên cứu, Josef Penninger, giám đốc Viện Khoa học Đời sống tại Đại học British Columbia, nhấn mạnh.

Mỗi cơ quan đơn lẻ trong cơ thể chúng ta đều liên quan tới hệ tuần hoàn. Vì thế, nuôi cấy được mạch máu người có thể cho phép các nhà nghiên cứu làm sáng tỏ nguyên nhân và cách điều trị cho rất nhiều căn bệnh về mạch khác nhau, từ bệnh Alzheimer tới tim mạch, các vấn đề chữa lành vết thương, nhồi máu cơ tim và tất nhiên, cả bệnh tiểu đường“.

Những organoid được gọi là organoid mạch này có thể nuôi cấy được từ tế bào gốc trong phòng thí nghiệm. Chúng mô phỏng một cách nổi bật cấu trúc và chức năng của mạch máu người thật.

Khi các nhà nghiên cứu cấy ghép các organoid mạch máu vào chuột, họ phát hiện thấy chúng phát triển thành các mạch máu người và thể hiện chức năng của mạch máu một cách hoàn hảo, bao gồm cả động mạch và mao mạch.

Công nghệ mang tính đột phá được công bố trên tạp chí Natural cũng hé mở một con đường mới để ngăn ngừa những thay đổi xảy ra ở mạch máu – nguyên nhân chủ yếu gây tử vong và tỷ lệ mắc bệnh ở những người bị tiểu đường. Các nhà nghiên cứu đã cho các organoid mạch máu nuôi cấy được tiếp xúc với môi trường “tiểu đường” trên đĩa Petri.

“Quả bom nổ chậm” mang tên tiểu đường

Được biết, hiện tại có khoảng 420 triệu người tiểu đường trên toàn thế giới.

Bất chấp sự phổ biến của bệnh tiểu đường, người ta vẫn còn biết rất ít về những thay đổi ở mạch, phát sinh do bệnh tiểu đường.

Nhiều triệu chứng của bệnh tiểu đường là kết quả của những thay đổi ở mạch máu, dẫn tới kết quả tuần hoàn máu và nguồn cung cấp oxy của mô bị tổn thương. Hệ quả, các trường hợp tiểu đường nặng thường dẫn đến mù lòa, đau tim, đột quỵ, suy thận, và thậm chí là tàn phế.

Penninger cho biết, mạch máu họ tạo ra đã được thử đưa vào môi trường giống như cơ thể người bị tiểu đường, và nó phản ứng giống hệt như một mạch máu thông thường.

Điều đáng chú ý là chúng tôi đã chế tạo thành công mạch máu người chỉ nhờ tế bào gốc,” – trích lời Reiner Wimmer, chuyên gia từ Viện khoa học Áo. “Mạch máu nhân tạo giống hệt như mạch bình thường của con người, kể cả ở mức độ phân tử, và nhờ thế chúng ta có thể thực hiện nhiều nghiên cứu về mạch máu con người hơn.”

Nguồn: Science Alert, IFL Science, DailyMail

BỆNH MÃN TÍNH LÀ GÌ?

Bệnh mãn tính là bệnh tiến triển kéo dài hoặc hay tái phát, thời gian bệnh từ 3 tháng trở lên. Bệnh mãn tính không thể ngừa bằng vắc xin, không thể chữa khỏi hoàn toàn và cũng không tự biến mất. Bệnh mãn tính phần lớn là bệnh không lây nhiễm, không do vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng hoặc nấm gây nên.

Xu hướng bệnh tật thế giới cũng như Việt Nam đang thay đổi, nếu trước đây những bệnh cấp tính lây nhiễm như dịch hạch, sốt rét, nhiễm khuẩn các loại hay gặp thì hiện nay các bệnh không lây nhiễm như bệnh tim mạch, suy giảm chức năng gan đái tháo đường, ung thư ngày càng nhiều và gây tốn kém cho cá nhân và cộng đồng. Vậy, bệnh mãn tính không lây nhiễm là gì, nguyên tắc chữa trị và ngăn ngừa ra sao?

XU HƯỚNG MẮC BỆNH MÃN TÍNH NHƯ THẾ NÀO?

Xu hướng thế giới là bệnh mãn tính không lây nhiễm ngày càng nhiều. Thống kê Bộ Y tế Việt Nam cũng cho thấy tỷ lệ mắc và chết do bệnh lý không lây nhiễm năm 1976 lần lượt là 43%, 45% thì đến năm 2003 các tỷ lệ này là 61%, 59%.

Bệnh có xu hướng tăng dần theo tuổi tác. Riêng nước Mỹ, ước tính đến năm 2049, số tàn tật chức năng do viêm xương khớp, đột quỵ, đái tháo đường, bệnh mạch vành, ung thư và suy tim tăng ít nhất 300%. Thuật ngữ “mãn tính” có thể có hoặc không trong tên gọi bệnh lý.

CÓ NHỮNG NHÓM BỆNH MÃN TÍNH NÀO?

  1. Ung thư.
  2. Suy thận mãn tính.
  3. Viêm gan mãn tính
  4. Bệnh nội tiết: béo phì, đái tháo đường…
  5. Bệnh lý tâm thần kinh: sa sút trí tuệ, trầm cảm…
  6. Bệnh tim mạch: tăng huyết áp, suy tim, bệnh tim thiếu máu cục bộ, bệnh mạch máu não…
  7. Bệnh tự miễn: lupus ban đỏ, xơ cứng bì, vẩy nến…
  8. Bệnh xương khớp mãn tính: viêm khớp dạng thấp, viêm xương khớp, thoái hóa khớp, loãng xương…
  9. Hội chứng mệt mỏi mãn tính.
  10. Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính: bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, viêm phế quản mạn, hen và khí phế thũng…

GÁNH NẶNG CỦA BỆNH MÃN TÍNH LÀ GÌ?

Bệnh mãn tính hiện nay là nguyên nhân tử vong và tàn tật chính trên thế giới. Các bệnh mãn tính không lây nhiễm chính như bệnh tim mạch, đái tháo đường, ung thư và bệnh đường hô hấp chiếm 57% trong 59 triệu tử vong hàng năm và 46% gánh nặng bệnh tật toàn cầu.

Mỗi năm, nhồi máu cơ tim gây chết 7,2 triệu người, đột quỵ (nhồi máu não và xuất huyết não) gây chết 5,5 triệu người còn tăng huyết áp và các bệnh tim khác gây chết 3,9 triệu người.

Hiện nay thế giới có hơn một tỉ người cân nặng vượt chuẩn và ít nhất 300 triệu người bị béo phì.

Ước tính có 177 triệu người mắc bệnh tiểu đường, phần lớn là tiểu đường tuýp 2 và 2/3 người mắc bệnh tiểu đường sống tại các nước đang phát triển.

Khoảng 75% bệnh tim mạch do các yếu tố chính sau gây ra: loạn mỡ máu, tăng huyết áp, ít ăn rau và trái cây, ít vận động thân thể và hút thuốc lá.

Nằm trong số 10 yếu tố nguy cơ gánh nặng bệnh tật toàn cầu theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2002: béo phì, tăng huyết áp, loạn mỡ máu, uống rượu và hút thuốc lá là nguyên nhân gây bệnh mãn tính.

Thống kê tại Hoa Kỳ cho thấy những người từ 65 tuổi trở lên, có 75% người mắc ít nhất một loại bệnh mãn tính và 50% mắc ít nhất 2 loại bệnh mãn tính.

TẠI SAO LẠI MẮC BỆNH MÃN TÍNH?

Do sự tác động lâu dài của các yếu tố (Các độc tố, quá tải chức năng, tuổi tác, thói quen sinh hoạt, tâm sinh lý…) đến cơ thể gây suy giảm, thoái hóa, rối loạn các chức năng sống của cơ thể.

Nguyên lý điều trị bệnh mãn tính là gì?

Tác động tích cực giúp cơ thể phục hồi các chức năng sống để trở về trạng thái hoạt động bình thường phù hợp với sinh lý, tuổi tác và môi trường sống.

Nguyên tắc chữa trị bệnh mãn tính như thế nào?

– Đặc điểm nổi bật trong điều trị bệnh mãn tính là áp dụng những chế độ kiểm soát bệnh lâu dài nhằm phục hồi chức năng, cải thiện chất lượng sống và hạn chế tối đa biến chứng thực thể và chức năng.

– Nên bắt đầu bằng tập luyện, phục hồi chức năng, thay đổi lối sống dùng thực phẩm chức năng hoặc thuốc có nguồn gốc tự nhiên. Đây là những biện pháp an toàn, không gây tác dụng phụ và phù hợp sinh lý.

– Chỉ dùng thuốc Tây khi thật cần thiết và phải có chỉ định của bác sỹ.

– Nâng cao kiến thức cho người bệnh để tự theo dõi, chăm sóc và kiểm soát bệnh.

– Kết hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc và người bệnh trong việc áp dụng các chế độ điều trị: theo dõi bệnh, chế độ sinh hoạt, tập luyện, điều chỉnh thuốc.

Phòng bệnh mãn tính như thế nào?

Theo ngạn ngữ cha ông, “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, đây là giải pháp thông minh và ít tốn kém nhất.

Các biện pháp phòng bệnh mãn tính bao gồm:

  • Ăn nhiều rau và trái cây cũng như đậu và ngũ cốc.
  • Vận động thể lực mức độ trung bình mỗi ngày 30 phút, ít nhất 5 lần mỗi tuần.
  • Chuyển từ ăn mỡ động vật bão hoà sang dầu thực vật chưa bão hoà.
  • Giảm ăn mỡ, muối và đường.
  • Duy trì cân nặng chuẩn (chỉ số khối cơ thể nằm trong khoảng 18,5 đến 24,9, tính bằng cách lấy cân nặng tính bằng kilogam chia cho bình phương chiều cao tính bằng mét).
  • Không hút thuốc hoặc bỏ hút thuốc.
  • Sàng lọc một số bệnh ung thư như ung thư đại tràng, tiền liệt tuyến, ung thư vú theo độ tuổi tương ứng; ví dụ: đàn ông từ 50 tuổi trở đi nên nội soi đại tràng để phát hiện ung thư đại tràng và xét nghiệm dấu ấn sinh học kháng nguyên tiền liệt tuyến (PSA-Prostate-specific antigen) 3 năm/lần để phát hiện ung thư tiền liệt tuyến còn phụ nữ từ 50 tuổi trở lên thì tự khám vú hàng tháng một lần và chụp tuyến vú 1-2 năm/lần đối với người có nguy cơ cao.

Khi đã bị rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp, đái tháo đường, gút…việc chữa trị giúp bình ổn bệnh, hạn chế biến chứng, giúp người bệnh sinh hoạt bình thường, đặc biệt là giảm chi phí; ví dụ: nếu không kiểm soát tốt tăng huyết áp thì người bệnh có thể bị nhồi máu cơ tim; lúc xảy ra biến chứng, người bệnh không những phải chữa trị tăng huyết áp mà còn thêm chi phí chữa trị nhồi máu cơ tim vốn tốn kém gấp bội và sau khi qua cơn nguy cấp thì chi phí chữa bệnh bao gồm chi phí chữa tăng huyết áp , cao huyết áp và chi phí chữa di chứng nhồi máu cơ tim.

Nguồn: Tổng hợp

Tăng Huyết Áp Và Bệnh Tim Mạch Ở Người Cao Tuổi

Tăng huyết áp là bệnh khá phổ biến ở người cao tuổi. Do sự lão hóa, động mạch trở nên cứng và ít mềm dẻo.

Tình trạng này dẫn đến huyết áp tâm thu cao, tạo ra sự chênh lệch lớn giữa huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương ở người cao tuổi.

MỤC TIÊU HUYẾT ÁP HỢP LÝ CHO NGƯỜI CAO TUỔI

Mặc dù hiện nay, hướng dẫn chung là  chỉ số huyết áp bình thường là huyết áp tâm thu dưới 140mmHg và huyết áp tâm trương dưới 90mmHg, riêng mục tiêu cho bệnh nhân cao tuổi phải là huyết áp tâm thu dưới 150mmHg và huyết áp tâm trương dưới 90mmHg. Ở bệnh nhân cao tuổi bị tiểu đường hoặc bệnh thận mạn tính, mục tiêu giảm huyết áp nên là huyết áp tâm thu dưới 140mmHg.

Thực tế cho thấy, mục tiêu điều trị đối với huyết áp chỉ đạt khoảng 70% ở người cao tuổi dùng thuốc điều trị tăng huyết áp, nhưng các nghiên cứu đã chứng minh lợi ích đáng kể khi áp dụng điều trị, ngay cả khi huyết áp mục tiêu không đạt được. Những lợi ích này bao gồm giảm nguy cơ đột quỵ do xuất huyết và thiếu máu cục bộ và giảm 4,4% suy tim.

NHỮNG NGUY CƠ KHI NGƯỜI CAO TUỔI TĂNG HUYẾT ÁP

Tăng huyết áp tâm thu ở người cao tuổi thường được gọi là “tăng huyết áp tâm thu đơn độc”, được đặc trưng với huyết áp tâm thu lớn hơn 160mmHg, huyết áp tâm trương dưới 90mmHg. Tăng huyết áp tâm thu là nguyên nhân phổ biến nhất gây tăng huyết áp ở những bệnh nhân trên 50 tuổi, là yếu tố nguy cơ lớn đối với bệnh tim và đột quỵ so với các thể tăng huyết áp nguyên phát khác.

Điều trị tăng huyết áp ở người cao tuổi có tầm quan trọng đặc biệt, bởi những lý do sau:

Do tăng nguy cơ biến cố tim mạch ở người cao tuổi so với bệnh nhân trẻ có cùng yếu tố nguy cơ.

Do tăng huyết áp ảnh hưởng đến suy giảm nhận thức ở người cao tuổi. Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa tăng huyết áp và mất trí nhớ. Điều trị lâu dài và kiểm soát tốt bệnh tăng huyết áp làm giảm đáng kể nguy cơ mắc chứng Alzheimer và mất trí nhớ do nguyên nhân mạch máu.

Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với bệnh mạch máu. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng những bệnh nhân bị tăng huyết áp được điều trị có tần suất đột quỵ, tử vong do đột quỵ, đau tim và các biến cố tim mạch khác thấp hơn.

NÊN ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC

Mặc dù những thay đổi trong lối sống như giảm cân, giảm muối và tập thể dục đem lại nhiều lợi ích, nhưng trong thực tế thay đổi lối sống không phải lúc nào cũng được thực hiện một cách đều đặn và nhất quán để cho phép bệnh nhân lớn tuổi đạt được lợi ích tối đa. Thay đổi lối sống không phải lúc nào cũng dễ dàng được thực hiện ở người cao tuổi và cũng có thể có nhiều rào cản. Điều quan trọng là không có bằng chứng thực sự cho thấy chỉ áp dụng đơn độc biện pháp thay đổi lối sống giúp kiểm soát tốt các nguy cơ nghiêm trọng đối với tăng huyết áp ở người cao tuổi. Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp kèm thay đổi lối sống hiệu quả hơn nhiều trong việc giảm các biến cố tim mạch ở người cao tuổi. Nói chung, những người có nhiều yếu tố nguy cơ đáng kể cho bệnh tim mạch, bất kể tuổi tác của họ, nên được điều trị bằng thuốc để đạt được huyết áp mục tiêu.

Các bệnh lý đi kèm như bệnh thận, bệnh gút, tiểu đường, loãng xương và suy tim ở người cao tuổi sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựa chọn thuốc được sử dụng để kiểm soát huyết áp. Nhiều bệnh lý đan xen ở bệnh nhân cao tuổi đòi hỏi bác sĩ xác định thận trọng thuốc huyết áp phù hợp.

Tăng huyết áp có thể khó kiểm soát hơn ở người cao tuổi và đơn thuốc có thể được kê nhiều hơn một loại thuốc. Điều này có thể dẫn đến hạ huyết áp tư thế đứng khi thay đổi từ tư thế ngồi nằm sang đứng. Điều đặc biệt quan trọng là đo huyết áp của người lớn tuổi khi đứng để có giải pháp ngăn ngất xỉu khi bệnh nhân đứng dậy. Hạ huyết áp tư thế đứng là nguy cơ luôn dễ gặp ở người cao tuổi, vì bệnh nhân lớn tuổi thường dùng nhiều loại thuốc gây ra các tương tác bất lợi cho huyết áp.

LỜI KHUYÊN THẦY THUỐC

Người trên 60 tuổi, ước tính tới 80% sẽ bị ảnh hưởng bởi tăng huyết áp. Người cao tuổi có thể cải thiện chất lượng cuộc sống của họ bằng cách giảm nguy cơ đột quỵ, cơn đau tim, suy tim và tử vong thông qua việc kiểm soát tốt huyết áp. Điều trị tăng huyết áp có thể kéo dài tuổi thọ và giảm nguy cơ các biến cố nghiêm trọng như đột quỵ hoặc cơn đau tim. Người cao tuổi bị tăng huyết áp, nên khám và xin tư vấn của bác sĩ tim mạch về việc thay đổi lối sống và điều trị bằng thuốc hạ huyết áp. Bắt đầu can thiệp điều trị càng sớm, chất lượng cuộc sống càng tăng.

Ý nghĩa của các chỉ số huyết áp

TẠI SAO BẠN CẦN PHẢI BIẾT Ý NGHĨA CỦA NHỮNG CHỈ SỐ HUYẾT ÁP?

Việc hiểu được những con số này thì thật ra không dễ chút nào vì chúng chứa những từ ngữ chuyên môn như “tâm thu”, “tâm trương”, “mi-li-mét thủy ngân” (mmHg). Tuy phức tạp, nhưng bạn vẫn phải hiểu chúng để có thể kiểm soát được huyết áp của mình, điều quan trọng là bạn phải biết ở mức nào được xem là bình thường, cũng như khi nào thì huyết áp bạn được xem là quá cao.

NHỮNG CHỈ SỐ HUYẾT ÁP NÀY LÀ GÌ?

Mọi người đều muốn có một cơ thể khỏe mạnh và có một mức huyết áp bình thường. Khi bác sĩ tiến hành đo huyết áp cho bạn, kết quả sẽ được hiển thị bởi hai con số, một con số nằm phía trên và một con số nằm phía dưới giống như là một phân số. Ví dụ như: 120/80 mmHg

Con số ở trên chỉ áp lực trong động mạch của bạn trong lúc cơ tim co lại; đây gọi là huyết áp “tâm thu”. Số dưới chỉ huyết áp khi cơ tim của bạn đang giãn ra, đây gọi là huyết áp “tâm trương”.

THẾ NÀO LÀ HUYẾT ÁP BÌNH THƯỜNG?

Kết quả bình thường là khi chỉ số trên dưới 120 và chỉ số ở dưới nhỏ hơn 80. Khi cả huyết áp tâm thu và tâm trương ở trong khoảng này, bạn được xem là có huyết áp ở mức bình thường. Vậy nên, kết quả chỉ số huyết áp bình thường phải nhỏ hơn 120/80 mmHg.

Chú ý là những chỉ số huyết áp được đo bằng “mi-li-mét thủy ngân”, viết tắt là “mmHg”.

GIAI ĐOẠN TIỀN TĂNG HUYẾT ÁP, DẤU HIỆU CẢNH BÁO SẮP BỊ BỆNH?

Kết quả huyết áp lớn hơn 120/80 mmHg là một dấu hiệu báo động bạn cần phải thay đổi lối sống lành mạnh cho tim mạch.

Khi huyết áp tâm thu của bạn (số phía trên) trong khoảng 120 và 139 mmHg hay tâm trương của bạn (số ở dưới) trong khoảng 80 và 89 thì bạn đang bị “tiền tăng huyết áp”.

Mặc dù chỉ số huyết áp này không được coi là “cao huyết áp”, nhưng nên nhớ là bạn đã ra khỏi khoảng bình thường. Chỉ số huyết áp trong khoảng này làm tăng nguy cơ bị cao huyết áp thật sự, tăng rủi ro mắc bệnh tim và đột quỵ.

CÁC PHÂN ĐỘ CỦA CAO HUYẾT ÁP GỒM NHỮNG GÌ?

ĐỘ 1

Thông thường, bạn sẽ được chẩn đoán là mắc bệnh cao huyết áp khi huyết áp tâm thu ở mức 140 và 159 mmHg, hoặc khi huyết áp tâm trương ở khoảng 90 đến 99 mmHg. Đây được xem là cao huyết áp độ 1.

Tuy nhiên, nếu bạn mới đo một lần duy nhất ra kết quả này thì bạn vẫn chưa được chẩn đoán là thực sự bị cao huyết áp. Bạn chỉ được chẩn đoán là bị bệnh cao huyết áp nếu những chỉ số huyết áp đo được, vẫn cao trong một thời gian dài.

Bác sĩ có thể giúp bạn đo và theo dõi huyết áp để xác định xem nó có quá cao hay không.

ĐỘ 2

Nếu giai đoạn 1 huyết áp cao là một mối lo, giai đoạn 2 huyết áp cao lại càng cho thấy tình trạng nghiêm trọng hơn. Nếu huyết áp của bạn có số phía trên lớn hơn 160, hay số phía dưới lớn hơn 100, bạn đang mắc phải cao huyết áp độ 2.

Ở giai đoạn này, ngoài việc thay đổi lối sống, chẳng hạn như giảm cân, ăn uống kiêng cữ hơn, và tập thể dục nhiều hơn – bác sĩ có thể kê cho bạn một hoặc nhiều loại thuốc để giữ cho huyết áp của bạn trong tầm kiểm soát.

VÙNG NGUY HIỂM

Khi chỉ số huyết áp trên 180/110 mmHg – hoặc có một trong hai tâm thu hoặc tâm trương cao hơn chỉ số này, điều này cho thấy bạn đang mắc một bệnh nghiêm trọng.

Chỉ số huyết áp cao như vậy cho thấy bạn đang có “cơn tăng huyết áp” và đòi hỏi phải được điều trị ngay lập tức.

Tuy nhiên, đôi khi giá trị huyết áp lúc đầu rất cao nhưng sau đó lại trở về bình thường. Nên thông thường bác sĩ có thể đo lại lần nữa sau ít phút. Kết quả lần hai nếu vẫn cao như vậy thì nghĩa là bạn cần phải được điều trị khẩn cấp.

BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA

Bác sĩ đã khuyến cáo rằng ngay cả những người có những có chỉ số huyết áp bình thường cũng nên thực hiện các biện pháp phòng ngừa để giúp họ tiếp tục giữ huyết áp ở mức bình thường, và hạn chế khả năng phát triển bệnh cao huyết áp hay tim mạch.

Để duy trì cân nặng hợp lý và khỏe mạnh, bạn có thể tập thể dục thường xuyên và có chế độ ăn uống hợp lý. Cơ thể khỏe mạnh sẽ giúp bạn làm giảm nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp.