Bài viết

BỆNH MÃN TÍNH LÀ GÌ?

Bệnh mãn tính là bệnh tiến triển kéo dài hoặc hay tái phát, thời gian bệnh từ 3 tháng trở lên. Bệnh mãn tính không thể ngừa bằng vắc xin, không thể chữa khỏi hoàn toàn và cũng không tự biến mất. Bệnh mãn tính phần lớn là bệnh không lây nhiễm, không do vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng hoặc nấm gây nên.

Xu hướng bệnh tật thế giới cũng như Việt Nam đang thay đổi, nếu trước đây những bệnh cấp tính lây nhiễm như dịch hạch, sốt rét, nhiễm khuẩn các loại hay gặp thì hiện nay các bệnh không lây nhiễm như bệnh tim mạch, suy giảm chức năng gan đái tháo đường, ung thư ngày càng nhiều và gây tốn kém cho cá nhân và cộng đồng. Vậy, bệnh mãn tính không lây nhiễm là gì, nguyên tắc chữa trị và ngăn ngừa ra sao?

XU HƯỚNG MẮC BỆNH MÃN TÍNH NHƯ THẾ NÀO?

Xu hướng thế giới là bệnh mãn tính không lây nhiễm ngày càng nhiều. Thống kê Bộ Y tế Việt Nam cũng cho thấy tỷ lệ mắc và chết do bệnh lý không lây nhiễm năm 1976 lần lượt là 43%, 45% thì đến năm 2003 các tỷ lệ này là 61%, 59%.

Bệnh có xu hướng tăng dần theo tuổi tác. Riêng nước Mỹ, ước tính đến năm 2049, số tàn tật chức năng do viêm xương khớp, đột quỵ, đái tháo đường, bệnh mạch vành, ung thư và suy tim tăng ít nhất 300%. Thuật ngữ “mãn tính” có thể có hoặc không trong tên gọi bệnh lý.

CÓ NHỮNG NHÓM BỆNH MÃN TÍNH NÀO?

  1. Ung thư.
  2. Suy thận mãn tính.
  3. Viêm gan mãn tính
  4. Bệnh nội tiết: béo phì, đái tháo đường…
  5. Bệnh lý tâm thần kinh: sa sút trí tuệ, trầm cảm…
  6. Bệnh tim mạch: tăng huyết áp, suy tim, bệnh tim thiếu máu cục bộ, bệnh mạch máu não…
  7. Bệnh tự miễn: lupus ban đỏ, xơ cứng bì, vẩy nến…
  8. Bệnh xương khớp mãn tính: viêm khớp dạng thấp, viêm xương khớp, thoái hóa khớp, loãng xương…
  9. Hội chứng mệt mỏi mãn tính.
  10. Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính: bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, viêm phế quản mạn, hen và khí phế thũng…

GÁNH NẶNG CỦA BỆNH MÃN TÍNH LÀ GÌ?

Bệnh mãn tính hiện nay là nguyên nhân tử vong và tàn tật chính trên thế giới. Các bệnh mãn tính không lây nhiễm chính như bệnh tim mạch, đái tháo đường, ung thư và bệnh đường hô hấp chiếm 57% trong 59 triệu tử vong hàng năm và 46% gánh nặng bệnh tật toàn cầu.

Mỗi năm, nhồi máu cơ tim gây chết 7,2 triệu người, đột quỵ (nhồi máu não và xuất huyết não) gây chết 5,5 triệu người còn tăng huyết áp và các bệnh tim khác gây chết 3,9 triệu người.

Hiện nay thế giới có hơn một tỉ người cân nặng vượt chuẩn và ít nhất 300 triệu người bị béo phì.

Ước tính có 177 triệu người mắc bệnh tiểu đường, phần lớn là tiểu đường tuýp 2 và 2/3 người mắc bệnh tiểu đường sống tại các nước đang phát triển.

Khoảng 75% bệnh tim mạch do các yếu tố chính sau gây ra: loạn mỡ máu, tăng huyết áp, ít ăn rau và trái cây, ít vận động thân thể và hút thuốc lá.

Nằm trong số 10 yếu tố nguy cơ gánh nặng bệnh tật toàn cầu theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2002: béo phì, tăng huyết áp, loạn mỡ máu, uống rượu và hút thuốc lá là nguyên nhân gây bệnh mãn tính.

Thống kê tại Hoa Kỳ cho thấy những người từ 65 tuổi trở lên, có 75% người mắc ít nhất một loại bệnh mãn tính và 50% mắc ít nhất 2 loại bệnh mãn tính.

TẠI SAO LẠI MẮC BỆNH MÃN TÍNH?

Do sự tác động lâu dài của các yếu tố (Các độc tố, quá tải chức năng, tuổi tác, thói quen sinh hoạt, tâm sinh lý…) đến cơ thể gây suy giảm, thoái hóa, rối loạn các chức năng sống của cơ thể.

Nguyên lý điều trị bệnh mãn tính là gì?

Tác động tích cực giúp cơ thể phục hồi các chức năng sống để trở về trạng thái hoạt động bình thường phù hợp với sinh lý, tuổi tác và môi trường sống.

Nguyên tắc chữa trị bệnh mãn tính như thế nào?

– Đặc điểm nổi bật trong điều trị bệnh mãn tính là áp dụng những chế độ kiểm soát bệnh lâu dài nhằm phục hồi chức năng, cải thiện chất lượng sống và hạn chế tối đa biến chứng thực thể và chức năng.

– Nên bắt đầu bằng tập luyện, phục hồi chức năng, thay đổi lối sống dùng thực phẩm chức năng hoặc thuốc có nguồn gốc tự nhiên. Đây là những biện pháp an toàn, không gây tác dụng phụ và phù hợp sinh lý.

– Chỉ dùng thuốc Tây khi thật cần thiết và phải có chỉ định của bác sỹ.

– Nâng cao kiến thức cho người bệnh để tự theo dõi, chăm sóc và kiểm soát bệnh.

– Kết hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc và người bệnh trong việc áp dụng các chế độ điều trị: theo dõi bệnh, chế độ sinh hoạt, tập luyện, điều chỉnh thuốc.

Phòng bệnh mãn tính như thế nào?

Theo ngạn ngữ cha ông, “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, đây là giải pháp thông minh và ít tốn kém nhất.

Các biện pháp phòng bệnh mãn tính bao gồm:

  • Ăn nhiều rau và trái cây cũng như đậu và ngũ cốc.
  • Vận động thể lực mức độ trung bình mỗi ngày 30 phút, ít nhất 5 lần mỗi tuần.
  • Chuyển từ ăn mỡ động vật bão hoà sang dầu thực vật chưa bão hoà.
  • Giảm ăn mỡ, muối và đường.
  • Duy trì cân nặng chuẩn (chỉ số khối cơ thể nằm trong khoảng 18,5 đến 24,9, tính bằng cách lấy cân nặng tính bằng kilogam chia cho bình phương chiều cao tính bằng mét).
  • Không hút thuốc hoặc bỏ hút thuốc.
  • Sàng lọc một số bệnh ung thư như ung thư đại tràng, tiền liệt tuyến, ung thư vú theo độ tuổi tương ứng; ví dụ: đàn ông từ 50 tuổi trở đi nên nội soi đại tràng để phát hiện ung thư đại tràng và xét nghiệm dấu ấn sinh học kháng nguyên tiền liệt tuyến (PSA-Prostate-specific antigen) 3 năm/lần để phát hiện ung thư tiền liệt tuyến còn phụ nữ từ 50 tuổi trở lên thì tự khám vú hàng tháng một lần và chụp tuyến vú 1-2 năm/lần đối với người có nguy cơ cao.

Khi đã bị rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp, đái tháo đường, gút…việc chữa trị giúp bình ổn bệnh, hạn chế biến chứng, giúp người bệnh sinh hoạt bình thường, đặc biệt là giảm chi phí; ví dụ: nếu không kiểm soát tốt tăng huyết áp thì người bệnh có thể bị nhồi máu cơ tim; lúc xảy ra biến chứng, người bệnh không những phải chữa trị tăng huyết áp mà còn thêm chi phí chữa trị nhồi máu cơ tim vốn tốn kém gấp bội và sau khi qua cơn nguy cấp thì chi phí chữa bệnh bao gồm chi phí chữa tăng huyết áp , cao huyết áp và chi phí chữa di chứng nhồi máu cơ tim.

Nguồn: Tổng hợp

Những Điều Cần Biết Về Bệnh Phổi Tắc Nghẽn Mãn Tính

Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) là thuật ngữ được sử dụng cho những tình trạng như hen, viêm phế quản, khí phế thũng.

Dưới đây là những điều cần biết về căn bệnh này:

  1. Những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc COPD

Yếu tố di truyền

Tình trạng di truyền được gọi là thiếu hụt alpha-1 antitrypsin khiến bạn có nguy cơ cao bị mắc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD). Đây là lý do tại sao bạn có thể vẫn bị tình trạng này ngay cả khi bạn không hút thuốc.

Hút thuốc

Những người có tiền sử hút thuốc sau nhiều năm có thể bị COPD. Không chỉ vậy, những người tiếp xúc với khói thuốc thụ động cũng có thể bị rối loạn này.

Chất ô nhiễm môi trường

Môi trường sống ô nhiễm làm tăng nguy cơ mắc COPD. Nếu bạn sống ở thành phố, các chất gây ô nhiễm như khói, khói hóa học có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng COPD của bạn.

Nhiên liệu sinh khối

Việc đun nấu bằng các nguồn nhiên liệu từ các nguồn sinh khối như gỗ, phân súc vật, bã cây trồng có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính COPD.

Nhiễm trùng ở trẻ

Tiếp xúc với các mềm bệnh truyền nhiễm khi còn nhỏ có thể làm tăng nguy cơ bị COPD trong giai đoạn sau của cuộc đời.

Không phải tất cả các loại nhiễm trùng nhưng những tình trạng như lao, viêm phế quản và nhiễm vi-rút của phổi có thể khiến người bệnh dễ bị COPD. Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng thậm chí viêm phổi lúc nhỏ cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh này trong tương lai.

  1. Nên làm gì khi bị mắc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính COPD?

Tránh các tác nhân kích thích

Những tác nhân kích thích phần lớn là bụi, chất gây dị ứng, khói. Hít phải những chất này có thể kích thích đường hô hấp và làm trầm trọng thêm tình trạng phổi. Cần đeo khẩu trang khi ra ngoài. Bằng cách đó bạn có thể bảo vệ cơ thể phần nào.

Kiểm soát cân nặng

Bệnh nhân bị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) nên kiểm soát trọng lượng cơ thể không nên để bị thừa cân hoặc thiếu cân. Tình trạng này có thể gây ra các rối loạn thở ở bệnh nhân. Nếu người bệnh bị thừa cân, phổi có thể phải hoạt động quá tải để cung cấp oxy cho máu. Chỉ số khối cơ thể thấp cũng không tốt cho người bệnh COPD. Vì vậy, bệnh nhân nên duy trì cân nặng lành mạnh.

Tập luyện thường xuyên

Tập luyện là việc làm cần thiết cho những người bị bệnh. Hãy tập luyện ít nhất 30 phút mỗi ngày. Không tập vào sáng sớm hoặc tối muộn vì hàm lượng bụi trong không khí thời điểm này nhiều hơn bình thường.

Sử dụng máy làm ẩm trong nhà

Môi trường không khí khô được cho là làm trầm trọng thêm tình trạng COPD vì nó làm khô các mô phổi. Máy làm ẩm sẽ giúp không khí trong nhà được làm ẩm. Điều này sẽ có lợi cho người bệnh.

Luôn mang theo thuốc hít

Những người bị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) như hen luôn cần mang theo thuốc hít để sử dụng khi cần thiết.

Tập thở

Đối với bệnh COPD, các chuyên gia khuyến nghị người bệnh nên sử dụng kỹ thuật thở bằng miệng để giảm các triệu chứng khó thở ở bệnh nhân. Để làm được điều này, người bệnh cần hít vào qua mũi và thở ra qua miệng. Đây là phương pháp điều trị hiệu quả cho bệnh nhân COPD.

Không nên dùng si-rô ho

Người bệnh nên thận trọng khi mua thuốc không kê đơn như si-rô ho. Nhiều loại si-rô ho chứa dextromethorphan, một chất ức chế ho. Trong bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD), bệnh nhân cần loại bỏ tất cả các chất nhầy và đờm ra khỏi phổi và không được ức chế nó.

Không ngừng điều trị

Ngay cả khi đã cảm thấy tốt hơn, bạn cũng cần hoàn thành đợt điều trị. Chỉ ngừng điều trị nếu có chỉ định của bác sĩ.

Không hoảng sợ

Nếu bạn thấy nhịp tim nhanh hơn bình thường, bạn đừng lo sợ. Khi đó hãy hít thở sâu và tập thở như trên.

 (Theo Univadis/ THS)

Tăng Huyết Áp Và Bệnh Tim Mạch Ở Người Cao Tuổi

Tăng huyết áp là bệnh khá phổ biến ở người cao tuổi. Do sự lão hóa, động mạch trở nên cứng và ít mềm dẻo.

Tình trạng này dẫn đến huyết áp tâm thu cao, tạo ra sự chênh lệch lớn giữa huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương ở người cao tuổi.

MỤC TIÊU HUYẾT ÁP HỢP LÝ CHO NGƯỜI CAO TUỔI

Mặc dù hiện nay, hướng dẫn chung là  chỉ số huyết áp bình thường là huyết áp tâm thu dưới 140mmHg và huyết áp tâm trương dưới 90mmHg, riêng mục tiêu cho bệnh nhân cao tuổi phải là huyết áp tâm thu dưới 150mmHg và huyết áp tâm trương dưới 90mmHg. Ở bệnh nhân cao tuổi bị tiểu đường hoặc bệnh thận mạn tính, mục tiêu giảm huyết áp nên là huyết áp tâm thu dưới 140mmHg.

Thực tế cho thấy, mục tiêu điều trị đối với huyết áp chỉ đạt khoảng 70% ở người cao tuổi dùng thuốc điều trị tăng huyết áp, nhưng các nghiên cứu đã chứng minh lợi ích đáng kể khi áp dụng điều trị, ngay cả khi huyết áp mục tiêu không đạt được. Những lợi ích này bao gồm giảm nguy cơ đột quỵ do xuất huyết và thiếu máu cục bộ và giảm 4,4% suy tim.

NHỮNG NGUY CƠ KHI NGƯỜI CAO TUỔI TĂNG HUYẾT ÁP

Tăng huyết áp tâm thu ở người cao tuổi thường được gọi là “tăng huyết áp tâm thu đơn độc”, được đặc trưng với huyết áp tâm thu lớn hơn 160mmHg, huyết áp tâm trương dưới 90mmHg. Tăng huyết áp tâm thu là nguyên nhân phổ biến nhất gây tăng huyết áp ở những bệnh nhân trên 50 tuổi, là yếu tố nguy cơ lớn đối với bệnh tim và đột quỵ so với các thể tăng huyết áp nguyên phát khác.

Điều trị tăng huyết áp ở người cao tuổi có tầm quan trọng đặc biệt, bởi những lý do sau:

Do tăng nguy cơ biến cố tim mạch ở người cao tuổi so với bệnh nhân trẻ có cùng yếu tố nguy cơ.

Do tăng huyết áp ảnh hưởng đến suy giảm nhận thức ở người cao tuổi. Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa tăng huyết áp và mất trí nhớ. Điều trị lâu dài và kiểm soát tốt bệnh tăng huyết áp làm giảm đáng kể nguy cơ mắc chứng Alzheimer và mất trí nhớ do nguyên nhân mạch máu.

Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với bệnh mạch máu. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng những bệnh nhân bị tăng huyết áp được điều trị có tần suất đột quỵ, tử vong do đột quỵ, đau tim và các biến cố tim mạch khác thấp hơn.

NÊN ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC

Mặc dù những thay đổi trong lối sống như giảm cân, giảm muối và tập thể dục đem lại nhiều lợi ích, nhưng trong thực tế thay đổi lối sống không phải lúc nào cũng được thực hiện một cách đều đặn và nhất quán để cho phép bệnh nhân lớn tuổi đạt được lợi ích tối đa. Thay đổi lối sống không phải lúc nào cũng dễ dàng được thực hiện ở người cao tuổi và cũng có thể có nhiều rào cản. Điều quan trọng là không có bằng chứng thực sự cho thấy chỉ áp dụng đơn độc biện pháp thay đổi lối sống giúp kiểm soát tốt các nguy cơ nghiêm trọng đối với tăng huyết áp ở người cao tuổi. Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp kèm thay đổi lối sống hiệu quả hơn nhiều trong việc giảm các biến cố tim mạch ở người cao tuổi. Nói chung, những người có nhiều yếu tố nguy cơ đáng kể cho bệnh tim mạch, bất kể tuổi tác của họ, nên được điều trị bằng thuốc để đạt được huyết áp mục tiêu.

Các bệnh lý đi kèm như bệnh thận, bệnh gút, tiểu đường, loãng xương và suy tim ở người cao tuổi sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựa chọn thuốc được sử dụng để kiểm soát huyết áp. Nhiều bệnh lý đan xen ở bệnh nhân cao tuổi đòi hỏi bác sĩ xác định thận trọng thuốc huyết áp phù hợp.

Tăng huyết áp có thể khó kiểm soát hơn ở người cao tuổi và đơn thuốc có thể được kê nhiều hơn một loại thuốc. Điều này có thể dẫn đến hạ huyết áp tư thế đứng khi thay đổi từ tư thế ngồi nằm sang đứng. Điều đặc biệt quan trọng là đo huyết áp của người lớn tuổi khi đứng để có giải pháp ngăn ngất xỉu khi bệnh nhân đứng dậy. Hạ huyết áp tư thế đứng là nguy cơ luôn dễ gặp ở người cao tuổi, vì bệnh nhân lớn tuổi thường dùng nhiều loại thuốc gây ra các tương tác bất lợi cho huyết áp.

LỜI KHUYÊN THẦY THUỐC

Người trên 60 tuổi, ước tính tới 80% sẽ bị ảnh hưởng bởi tăng huyết áp. Người cao tuổi có thể cải thiện chất lượng cuộc sống của họ bằng cách giảm nguy cơ đột quỵ, cơn đau tim, suy tim và tử vong thông qua việc kiểm soát tốt huyết áp. Điều trị tăng huyết áp có thể kéo dài tuổi thọ và giảm nguy cơ các biến cố nghiêm trọng như đột quỵ hoặc cơn đau tim. Người cao tuổi bị tăng huyết áp, nên khám và xin tư vấn của bác sĩ tim mạch về việc thay đổi lối sống và điều trị bằng thuốc hạ huyết áp. Bắt đầu can thiệp điều trị càng sớm, chất lượng cuộc sống càng tăng.