Bài viết

Ăn Nhiều Đường Sẽ Làm Tăng Huyết Áp?

Đường và tinh bột là một trong 4 thành phần quan trọng, cung cấp năng lượng chính, của thức ăn. Nhưng, vì sao thìa đường ngọt ngào liệu có thể tăng huyết áp của con người?

Các bằng chứng được công bố trên tạp chí trực tuyến Open Heart cho thấy ăn nhiều đường có nguy cơ cao tăng huyết áp và bệnh tim mạch. Vấn đề đáng nói ở đây đó là: Tăng huyết áp là yếu tố chính góp phần vào tỷ lệ số ca tử vong tăng lên.

HỆ LUỴ CỦA ĐƯỜNG

Kiểm soát bệnh tăng huyết áp được cho là nhiệm vụ trọng tâm của ​​y tế công cộng và cách tiếp cận chế độ ăn uống để giải quyết cơn tăng huyết áp đã từng được tập trung chủ yếu vào lượng natri (muối) hấp thụ vào cơ thể. Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ ra rằng việc giảm huyết áp bằng cách hạn chế ăn muối là rất mong manh. Hơn nữa, thực phẩm chế biến sẵn không chỉ có muối mà còn có các thành phần tinh chế lớn từ các loại đường và các loại tinh bột khác nhau.

Các bằng chứng khoa học từ các nghiên cứu dân số và các thử nghiệm lâm sàng liên quan đến đường là rất thuyết phục. Chúng chỉ ra rằng đường đóng vai trò chính trong sự phát triển của chứng tăng huyết áp. Hơn nữa, các bằng chứng này còn cho thấy đường nói chung và fructose nói riêng có thể góp phần tăng các rủi ro tim mạch.

Glucose là chất cung cấp năng lượng chính cho mọi sinh vật, từ con vi khuẩn bé nhỏ cho đến con người. Glucose là thành phần cấu tạo chính của tinh bột có trong ngũ cốc, các loại hạt, củ…. Cơ thể chúng ta có khả năng sản xuất ra glucose và mỗi tế bào trên bề mặt trái đất đều chứa glucose bên trong. Đây là một phân tử vô cùng quan trọng trong cuộc sống.

Tuy nhiên fructose thì không như vậy. Fructose là một loại đường có trong tự nhiên như trái cây và mật ong. Ngành công nghiệp thực phẩm cũng tạo ra đường fructose nhân tạo, chất làm ngọt phổ biến nhất trong các thực phẩm chế biến, đặc biệt là nước trái cây và nước ngọt

Sự khác biệt lớn nhất của hai loại đường này đó là: Khi mọi tế bào trong cơ thể đều có thể sử dụng glucose thì chỉ có gan là cơ quan duy nhất có khả năng chuyển hóa một lượng fructose nhất định. Nếu chúng ta ăn nhiều các chế phẩm chứa nhiều fructose nhân tạo, gan sẽ phải làm việc quá tải và chuyển hóa chúng thành chất béo. Đây cũng chính là nguyên nhân gây bệnh béo phì, tiểu đường tuýp 2, tim mạch và thậm chí cả ung thư.

ĐƯỜNG ẢNH HƯỞNG TỚI HUYẾT ÁP NHƯ THẾ NÀO?

Khi lượng đường được ăn nhiều hơn sẽ làm tăng huyết áp tâm thu (6,9 mm Hg) và tăng huyết áp tâm trương (5,6 mm Hg). Theo nghiên cứu, những ai ăn nhiều calo (từ 25% calo trở lên) sẽ tăng nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch gấp 3 lần.

Chỉ số huyết áp như thế nào là cao? Đọc tiếp

Mức tiêu thụ đường bình quân đầu người hiện nay cao gấp từ 2 đến 8 lần so với khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), do thói quen ăn uống các chế phẩm ăn nhanh và làm sẵn. Xét đến thanh thiếu niên cụ thể, mức tiêu thụ hiện tại có thể cao gấp từ 6 đến 16 lần.

Việc lạm dụng quá mức fructose do ăn uống là một cơ chế có khả năng làm tăng nhịp tim, nồng độ muối trong thận và sức đề kháng của mạch máu… Tất cả những điều này đều có thể tương tác làm tăng huyết áp và tăng nhu cầu về oxy cơ tim.

Tuy nhiên, ăn đường – bao gồm cả fructose – từ sản phẩm sinh học tự nhiên (trái cây) lại không gây hại mà rất có lợi cho cơ thể.

Theo tiến sĩ James DiNicolantonio, Mỹ, việc giảm tiêu thụ đường bằng cách hạn chế các thực phẩm chế biến có chứa chúng nên được thực hiện trước tiên ngay ở các công ty chế biến thực phẩm thông qua tuyên truyền và tập huấn kiến thức sức khỏe. Nhiều bằng chứng cho thấy rằng ngay cả khi dùng một lượng đường vừa phải trong khoảng thời gian ngắn cũng có thể gây ra những tác động xấu với cơ thể.

Thường xuyên uống các đồ uống có đường như soda, cola, các đồ uống ngọt có ga… có thể dẫn đến hiện tượng  lão hóa sớm các tế bào miễn dịch, khiến cơ thể dễ bị bệnh mạn tính tương đương với ảnh hưởng của việc hút thuốc lá.

Nguồn: OpenHeart

Lý Giải Hiện Tượng Khi Tuổi Cao Dễ Mắc Bệnh Cao Huyết Áp

Cao huyết áp là căn bệnh khá phổ biến trong xã hội hiện đại, nhưng khi tuổi cao căn bệnh này lại càng phát triển. Những nguyên nhân dưới đây được giới y khoa xem là những lý do rất tiềm ẩn.

VÀI NÉT VỀ BỆNH CAO HUYẾT ÁP

Cao huyết áp hay tăng huyết áp là căn bệnh mạn tính trong đó áp lực máu đo được ở động mạch tăng cao. Huyết áp thường được đo bằng hai chỉ số là huyết áp tâm thu (systolic) và huyết áp tâm trương (diastolic), dựa trên 2 giai đoạn co bóp và giãn nghỉ của cơ tim, tương ứng với áp lực cao nhất và áp lực thấp nhất của dòng máu trong động mạch. Đến nay, có nhiều chuẩn về khoảng bình thường của huyết áp. Huyết áp lúc nghỉ thông thường trong khoảng 100 – 140mmHg huyết áp tâm thu và 60 – 90mmHg huyết áp tâm trương, nếu trên ngưỡng 140/90mmHg được xem là mắc bệnh.

Cao huyết áp được phân thành hai dạng là tăng huyết áp nguyên phát và thứ phát. Tăng nguyên phát chiếm 90 – 95% số ca mắc bệnh, tức không xác định được bệnh nguyên nhân, hay nguyên nhân không rõ ràng (vô căn). Khoảng 5 – 10% còn lại là tăng huyết áp thứ phát, có nguyên nhân cụ thể do một số bệnh tác động tới thận, động mạch, tim, và hệ nội tiết. Tăng huyết áp tạo áp lực cho tim, dẫn đến gia tăng bệnh tim mạch, yếu tố nguy cơ chính trong tai biến mạch máu não, suy tim, phình động mạch, bệnh thận mạn, và bệnh động mạch ngoại biên cùng nhiều hệ luỵ nan y khác.

NHỮNG LÝ DO GÂY BỆNH Ở NGƯỜI CAO TUỔI

  • Do hóa chất BPA: tạp chí cao huyết áp Hypertension của Mỹ số ra mới đây phát hiện thấy hóa chất BPA được dùng để tráng lớp lót bên trong của các loại bao bì đựng đồ uống như chai nhựa, lon hộp có thể bài tiết vào thực phẩm và làm tăng huyết áp. Rất nhiều nghiên cứu khác cũng phát hiện thấy phơi nhiễm mạn tính BPA làm tăng bệnh tim mạch, cao huyết áp.

Viện tim mạch Bluhm (BCI) Mỹ khuyến cáo mọi người nên tránh xa BPA, hạn chế dùng thực phẩm chứa trong đồ hộp, chai lọ nhựa, nên dùng sản phẩm đồ chứa khác thay thế như thủy tinh, gốm sứ, thép không rỉ, nhất là dùng đựng thực phẩm nóng. Khi dùng lò vi sóng không được cho đồ chứa nhựa vào lò,  nhiệt độ cao sẽ làm cho BPA tiết ra nhanh hơn.

  • Đường: thực phẩm rất gần gũi với con người, ngon miệng và dễ nghiện, thủ phạm gây béo phì, tăng huyết áp. Theo nghiên cứu của BCI, đường còn nguy hiểm hơn cả muối, vì vậy những người mắc bệnh cao huyết áp cần giảm ăn đường, nhất là đường fluctose được bổ sung vào cho các loại thực phẩm ăn nhanh.

Hiệp hội Tim mạch Mỹ (AHA) khuyến cáo, phụ nữ cao niên không nên ăn quá 6 thìa cà phê đường (khoảng 100 calo)/ngày, còn đàn ông không quá 9 thìa cà phê (150 calo). Ví dụ, một lon soda có chứa tới 9 thìa cà phê đường. Muốn giảm đường, trước tiên nên tránh xa thực phẩm ăn nhanh, chế biến quá kỹ bởi đây là nhóm thực phẩm không có lợi cho sức khỏe tim mạch.

  • Ngưng thở khi ngủ (sleep apnea): căn bệnh rối loạn thường gặp ở nhóm trung cao niên, nếu không được chẩn đoán, chữa trị kịp thời dễ dẫn đến ngáy ngủ và tăng huyết áp. Theo các chuyên gia ở Quỹ nghiên cứu giấc ngủ quốc gia Mỹ (NSF) khi đường khí thở bị gián đoạn, lượng oxy trong máu giảm, não truyền tín hiệu qua hệ thần để lấy thêm oxy cho tim cho tim vào não, vì vậy nó làm cho các mạch máu bị hẹp lại. Nếu thường xuyên thiếu hụt dưỡng khí thì chất lượng giấc ngủ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ngoài ra nó còn làm cho cơ thể bài tiết nhiều hoóc-môn stress, làm rối loạn nhịp tim, dẫn đến tăng huyết áp.

Để giảm bệnh, mọi người nên áp dụng lối sống khoa học, như giảm cân, năng luyện tập, ăn uống cân bằng khoa học, nếu nặng có thể tư vấn bác sĩ dùng thuốc, phẫu thuật hoặc mang thiết bị hỗ trợ hô hấp khi ngủ để giúp dòng không khí thông suốt.

  • Cô đơn: những người sống đơn chiếc, cô đơn hoặc luôn có cảm giác cô đơn thường dễ mắc bệnh cao huyết áp, căng thẳng, chất lượng cuộc sống bị suy giảm. Mới đây, các chuyên gia ở ĐH Chicago Mỹ đã kết thúc nghiên cứu dài 5 năm phát hiện thấy mối liên quan mật thiết giữa cô đơn và cao huyết áp ở nhóm người trên 50 tuổi. Ngược lại, những người có cuộc sống lạc quan, vui vẻ, nhiều bạn bè, mối quan hệ xã hội tốt, bản thân luôn cảm thấy cuộc đời có nghĩa, hạnh phúc thì có tỉ lệ mắc bệnh cao huyết áp tim mạch thấp.

Vì lý do này mọi người nên thay đổi cách suy nghĩ, thay đổi lối sống, duy trì mối quan hệ cộng đồng, tăng bạn bớt thù, giảm ý nghĩ thù địch sẽ giúp cho sức khỏe được củng cố, ít mắc bệnh bệnh cao huyết áp cũng như tim mạch.

  • Do thuốc chữa bệnh: các loại thuốc kê đơn lẫn không kê đơn (OTC) đều có tác dụng chữa bệnh, tăng cường sức khỏe nhưng thực tế một số loại thuốc lại làm tăng huyết áp. Theo bệnh viện Mayo Clinic Mỹ, những người dùng thuốc giảm đau, giảm sốt acetaminophen (Tylenol) thường có tỉ lệ mắc bệnh cao huyết áp cao hơn nhóm không dùng thuốc. Ngoài ra, một số loại thuốc như thuốc kháng viêm ibuprofen (Advil, Motrin IB), naproxen sodium (Aleve), thuốc chống trầm cảm Venlafaxine (Effexor), Bupropion (Wellbutrin), và Desipramine (Norpramin) cũng làm tăng huyết  áp. Một số loại dược thảo như thuốc bổ như: nhân sâm, cam thảo, cây ma hoàng (ephedra), các loại thuốc thông mũi, thuốc hít cũng có tác dụng phụ làm tăng huyết áp, vì vậy những người mắc bệnh cao huyết áp khi dùng các loại thuốc này nên tư vấn kỹ bác sĩ và đo huyết áp thường xuyên.
  • Mắc bệnh tuyến giáp: các chuyên gia ở AHA phát hiện thấy bệnh suy giáp (tức tuyến giáp sản xuất không đủ hormone tuyến giáp) và bệnh cường giáp (tuyến giáp sản xuất quá nhiều hoóc-môn tuyến giáp) là thủ phạm làm tăng huyết áp cao hơn so với những người bình thường. Không chỉ có suy giáp và cường giáp, các chứng bệnh liên quan đến tuyến giáp khác, như cường cận giáp cũng được xem là thủ phạm nặng ký gây bệnh cao huyết áp. Cận giáp tác động đến việc điều tiết hormone, tạo ra quá nhiều canxi trong máu và cuối cùng làm tăng huyết áp.

Để giảm bệnh, những người mắc bệnh tuyến giáp cần điều trị đồng thời những căn bệnh mắc phải, một khi tuyến giáp ổn định, làm việc tốt sẽ giúp giảm huyết áp, giúp ổn định tâm tính và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người trong cuộc.

Tăng Huyết Áp Và Bệnh Tim Mạch Ở Người Cao Tuổi

Tăng huyết áp là bệnh khá phổ biến ở người cao tuổi. Do sự lão hóa, động mạch trở nên cứng và ít mềm dẻo.

Tình trạng này dẫn đến huyết áp tâm thu cao, tạo ra sự chênh lệch lớn giữa huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương ở người cao tuổi.

MỤC TIÊU HUYẾT ÁP HỢP LÝ CHO NGƯỜI CAO TUỔI

Mặc dù hiện nay, hướng dẫn chung là  chỉ số huyết áp bình thường là huyết áp tâm thu dưới 140mmHg và huyết áp tâm trương dưới 90mmHg, riêng mục tiêu cho bệnh nhân cao tuổi phải là huyết áp tâm thu dưới 150mmHg và huyết áp tâm trương dưới 90mmHg. Ở bệnh nhân cao tuổi bị tiểu đường hoặc bệnh thận mạn tính, mục tiêu giảm huyết áp nên là huyết áp tâm thu dưới 140mmHg.

Thực tế cho thấy, mục tiêu điều trị đối với huyết áp chỉ đạt khoảng 70% ở người cao tuổi dùng thuốc điều trị tăng huyết áp, nhưng các nghiên cứu đã chứng minh lợi ích đáng kể khi áp dụng điều trị, ngay cả khi huyết áp mục tiêu không đạt được. Những lợi ích này bao gồm giảm nguy cơ đột quỵ do xuất huyết và thiếu máu cục bộ và giảm 4,4% suy tim.

NHỮNG NGUY CƠ KHI NGƯỜI CAO TUỔI TĂNG HUYẾT ÁP

Tăng huyết áp tâm thu ở người cao tuổi thường được gọi là “tăng huyết áp tâm thu đơn độc”, được đặc trưng với huyết áp tâm thu lớn hơn 160mmHg, huyết áp tâm trương dưới 90mmHg. Tăng huyết áp tâm thu là nguyên nhân phổ biến nhất gây tăng huyết áp ở những bệnh nhân trên 50 tuổi, là yếu tố nguy cơ lớn đối với bệnh tim và đột quỵ so với các thể tăng huyết áp nguyên phát khác.

Điều trị tăng huyết áp ở người cao tuổi có tầm quan trọng đặc biệt, bởi những lý do sau:

Do tăng nguy cơ biến cố tim mạch ở người cao tuổi so với bệnh nhân trẻ có cùng yếu tố nguy cơ.

Do tăng huyết áp ảnh hưởng đến suy giảm nhận thức ở người cao tuổi. Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa tăng huyết áp và mất trí nhớ. Điều trị lâu dài và kiểm soát tốt bệnh tăng huyết áp làm giảm đáng kể nguy cơ mắc chứng Alzheimer và mất trí nhớ do nguyên nhân mạch máu.

Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với bệnh mạch máu. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng những bệnh nhân bị tăng huyết áp được điều trị có tần suất đột quỵ, tử vong do đột quỵ, đau tim và các biến cố tim mạch khác thấp hơn.

NÊN ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC

Mặc dù những thay đổi trong lối sống như giảm cân, giảm muối và tập thể dục đem lại nhiều lợi ích, nhưng trong thực tế thay đổi lối sống không phải lúc nào cũng được thực hiện một cách đều đặn và nhất quán để cho phép bệnh nhân lớn tuổi đạt được lợi ích tối đa. Thay đổi lối sống không phải lúc nào cũng dễ dàng được thực hiện ở người cao tuổi và cũng có thể có nhiều rào cản. Điều quan trọng là không có bằng chứng thực sự cho thấy chỉ áp dụng đơn độc biện pháp thay đổi lối sống giúp kiểm soát tốt các nguy cơ nghiêm trọng đối với tăng huyết áp ở người cao tuổi. Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp kèm thay đổi lối sống hiệu quả hơn nhiều trong việc giảm các biến cố tim mạch ở người cao tuổi. Nói chung, những người có nhiều yếu tố nguy cơ đáng kể cho bệnh tim mạch, bất kể tuổi tác của họ, nên được điều trị bằng thuốc để đạt được huyết áp mục tiêu.

Các bệnh lý đi kèm như bệnh thận, bệnh gút, tiểu đường, loãng xương và suy tim ở người cao tuổi sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựa chọn thuốc được sử dụng để kiểm soát huyết áp. Nhiều bệnh lý đan xen ở bệnh nhân cao tuổi đòi hỏi bác sĩ xác định thận trọng thuốc huyết áp phù hợp.

Tăng huyết áp có thể khó kiểm soát hơn ở người cao tuổi và đơn thuốc có thể được kê nhiều hơn một loại thuốc. Điều này có thể dẫn đến hạ huyết áp tư thế đứng khi thay đổi từ tư thế ngồi nằm sang đứng. Điều đặc biệt quan trọng là đo huyết áp của người lớn tuổi khi đứng để có giải pháp ngăn ngất xỉu khi bệnh nhân đứng dậy. Hạ huyết áp tư thế đứng là nguy cơ luôn dễ gặp ở người cao tuổi, vì bệnh nhân lớn tuổi thường dùng nhiều loại thuốc gây ra các tương tác bất lợi cho huyết áp.

LỜI KHUYÊN THẦY THUỐC

Người trên 60 tuổi, ước tính tới 80% sẽ bị ảnh hưởng bởi tăng huyết áp. Người cao tuổi có thể cải thiện chất lượng cuộc sống của họ bằng cách giảm nguy cơ đột quỵ, cơn đau tim, suy tim và tử vong thông qua việc kiểm soát tốt huyết áp. Điều trị tăng huyết áp có thể kéo dài tuổi thọ và giảm nguy cơ các biến cố nghiêm trọng như đột quỵ hoặc cơn đau tim. Người cao tuổi bị tăng huyết áp, nên khám và xin tư vấn của bác sĩ tim mạch về việc thay đổi lối sống và điều trị bằng thuốc hạ huyết áp. Bắt đầu can thiệp điều trị càng sớm, chất lượng cuộc sống càng tăng.

Ý nghĩa của các chỉ số huyết áp

TẠI SAO BẠN CẦN PHẢI BIẾT Ý NGHĨA CỦA NHỮNG CHỈ SỐ HUYẾT ÁP?

Việc hiểu được những con số này thì thật ra không dễ chút nào vì chúng chứa những từ ngữ chuyên môn như “tâm thu”, “tâm trương”, “mi-li-mét thủy ngân” (mmHg). Tuy phức tạp, nhưng bạn vẫn phải hiểu chúng để có thể kiểm soát được huyết áp của mình, điều quan trọng là bạn phải biết ở mức nào được xem là bình thường, cũng như khi nào thì huyết áp bạn được xem là quá cao.

NHỮNG CHỈ SỐ HUYẾT ÁP NÀY LÀ GÌ?

Mọi người đều muốn có một cơ thể khỏe mạnh và có một mức huyết áp bình thường. Khi bác sĩ tiến hành đo huyết áp cho bạn, kết quả sẽ được hiển thị bởi hai con số, một con số nằm phía trên và một con số nằm phía dưới giống như là một phân số. Ví dụ như: 120/80 mmHg

Con số ở trên chỉ áp lực trong động mạch của bạn trong lúc cơ tim co lại; đây gọi là huyết áp “tâm thu”. Số dưới chỉ huyết áp khi cơ tim của bạn đang giãn ra, đây gọi là huyết áp “tâm trương”.

THẾ NÀO LÀ HUYẾT ÁP BÌNH THƯỜNG?

Kết quả bình thường là khi chỉ số trên dưới 120 và chỉ số ở dưới nhỏ hơn 80. Khi cả huyết áp tâm thu và tâm trương ở trong khoảng này, bạn được xem là có huyết áp ở mức bình thường. Vậy nên, kết quả chỉ số huyết áp bình thường phải nhỏ hơn 120/80 mmHg.

Chú ý là những chỉ số huyết áp được đo bằng “mi-li-mét thủy ngân”, viết tắt là “mmHg”.

GIAI ĐOẠN TIỀN TĂNG HUYẾT ÁP, DẤU HIỆU CẢNH BÁO SẮP BỊ BỆNH?

Kết quả huyết áp lớn hơn 120/80 mmHg là một dấu hiệu báo động bạn cần phải thay đổi lối sống lành mạnh cho tim mạch.

Khi huyết áp tâm thu của bạn (số phía trên) trong khoảng 120 và 139 mmHg hay tâm trương của bạn (số ở dưới) trong khoảng 80 và 89 thì bạn đang bị “tiền tăng huyết áp”.

Mặc dù chỉ số huyết áp này không được coi là “cao huyết áp”, nhưng nên nhớ là bạn đã ra khỏi khoảng bình thường. Chỉ số huyết áp trong khoảng này làm tăng nguy cơ bị cao huyết áp thật sự, tăng rủi ro mắc bệnh tim và đột quỵ.

CÁC PHÂN ĐỘ CỦA CAO HUYẾT ÁP GỒM NHỮNG GÌ?

ĐỘ 1

Thông thường, bạn sẽ được chẩn đoán là mắc bệnh cao huyết áp khi huyết áp tâm thu ở mức 140 và 159 mmHg, hoặc khi huyết áp tâm trương ở khoảng 90 đến 99 mmHg. Đây được xem là cao huyết áp độ 1.

Tuy nhiên, nếu bạn mới đo một lần duy nhất ra kết quả này thì bạn vẫn chưa được chẩn đoán là thực sự bị cao huyết áp. Bạn chỉ được chẩn đoán là bị bệnh cao huyết áp nếu những chỉ số huyết áp đo được, vẫn cao trong một thời gian dài.

Bác sĩ có thể giúp bạn đo và theo dõi huyết áp để xác định xem nó có quá cao hay không.

ĐỘ 2

Nếu giai đoạn 1 huyết áp cao là một mối lo, giai đoạn 2 huyết áp cao lại càng cho thấy tình trạng nghiêm trọng hơn. Nếu huyết áp của bạn có số phía trên lớn hơn 160, hay số phía dưới lớn hơn 100, bạn đang mắc phải cao huyết áp độ 2.

Ở giai đoạn này, ngoài việc thay đổi lối sống, chẳng hạn như giảm cân, ăn uống kiêng cữ hơn, và tập thể dục nhiều hơn – bác sĩ có thể kê cho bạn một hoặc nhiều loại thuốc để giữ cho huyết áp của bạn trong tầm kiểm soát.

VÙNG NGUY HIỂM

Khi chỉ số huyết áp trên 180/110 mmHg – hoặc có một trong hai tâm thu hoặc tâm trương cao hơn chỉ số này, điều này cho thấy bạn đang mắc một bệnh nghiêm trọng.

Chỉ số huyết áp cao như vậy cho thấy bạn đang có “cơn tăng huyết áp” và đòi hỏi phải được điều trị ngay lập tức.

Tuy nhiên, đôi khi giá trị huyết áp lúc đầu rất cao nhưng sau đó lại trở về bình thường. Nên thông thường bác sĩ có thể đo lại lần nữa sau ít phút. Kết quả lần hai nếu vẫn cao như vậy thì nghĩa là bạn cần phải được điều trị khẩn cấp.

BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA

Bác sĩ đã khuyến cáo rằng ngay cả những người có những có chỉ số huyết áp bình thường cũng nên thực hiện các biện pháp phòng ngừa để giúp họ tiếp tục giữ huyết áp ở mức bình thường, và hạn chế khả năng phát triển bệnh cao huyết áp hay tim mạch.

Để duy trì cân nặng hợp lý và khỏe mạnh, bạn có thể tập thể dục thường xuyên và có chế độ ăn uống hợp lý. Cơ thể khỏe mạnh sẽ giúp bạn làm giảm nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp.