Bài viết

Triệu chứng của bệnh sa sút trí tuệ là gì?

Bệnh sa sút trí tuệ mô tả một nhóm các triệu chứng ảnh hưởng đến trí nhớ, suy nghĩ và khả năng xã hội đủ nghiêm trọng để ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của người mắc phải. Đây không phải là một bệnh cụ thể, nhưng một số bệnh khác nhau cũng có thể gây ra chứng sa sút trí tuệ.

Mặc dù sa sút trí tuệ nói chung liên quan đến mất trí nhớ, mất trí nhớ có những nguyên nhân khác nhau. Nếu chỉ có triệu chứng mất trí nhớ thì không có nghĩa là người đó bị sa sút trí tuệ.

Bệnh Alzheimer là nguyên nhân phổ biến nhất của chứng mất trí tiến triển ở người lớn tuổi, nhưng có một số nguyên nhân khác cũng gây sa sút trí tuệ. Tùy thuộc vào nguyên nhân, một số triệu chứng sa sút trí tuệ có thể hồi phục.

Triệu chứng bệnh Bệnh sa sút trí tuệ

Các triệu chứng khác nhau tùy thuộc vào nguyên nhân, nhưng các dấu hiệu và triệu chứng phổ biến bao gồm:

  • Thay đổi nhận thứ
  • Mất trí nhớ
  • Khó giao tiếp hoặc tìm từ
  • Khó khăn với khả năng thị giác và không gian, chẳng hạn như bị lạc trong khi lái xe
  • Khó khăn trong việc suy luận hoặc giải quyết vấn đề
  • Khó xử lý các nhiệm vụ phức tạp
  • Khó khăn với việc lập kế hoạch và tổ chức

  • Khó khăn với sự phối hợp và chức năng vận động
  • Nhầm lẫn và mất phương hướng
  • Thay đổi tâm lý
  • Thay đổi tính cách
  • Phiền muộn
  • Lo âu
  • Hành vi không phù hợp
  • Chứng hoang tưởng
  • Kích động
  • Ảo giác

Khi nào đi khám bác sĩ?

Gặp bác sĩ sớm nếu người bệnh hoặc người thân có vấn đề về trí nhớ hoặc các triệu chứng sa sút trí tuệ. Một số phương pháp điều trị hay bệnh đều có thể gây ra các triệu chứng sa sút trí tuệ, vì vậy điều quan trọng là cần xác định nguyên nhân.

Đường lây truyền bệnh Bệnh sa sút trí tuệ

Bệnh sa sút trí tuệ không phải là bệnh truyền nhiễm, do đó, không lây truyền từ người mắc bệnh sang người khỏe mạnh.

Đối tượng nguy cơ bệnh Bệnh sa sút trí tuệ

Có rất nhiều yếu tố cuối cùng có thể góp phần vào chứng sa sút trí tuệ và các yếu tố nguy cơ này được chia thành hai nhóm:

Các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi

  • Tuổi tác. Nguy cơ tăng lên khi già đi, đặc biệt là sau 65 tuổi. Tuy nhiên, chứng sa sút trí tuệ không phải là một phần bình thường của lão hóa và chứng mất trí nhớ có thể xảy ra ở những người trẻ tuổi.
  • Tiền sử gia đình. Có tiền sử gia đình mắc chứng sa sút trí tuệ khiến thế hệ sau có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Tuy nhiên, nhiều người có tiền sử gia đình không bao giờ phát triển các triệu chứng và nhiều người không có tiền sử gia đình nhưng lại bị bệnh
  • Hội chứng Down. Ở tuổi trung niên, nhiều người mắc hội chứng Down khởi phát bệnh Alzheimer sớm so với người bình thường.

Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi

Bạn có thể kiểm soát các yếu tố nguy cơ sau đây:

  • Ăn kiêng và tập thể dục. Nghiên cứu cho thấy thiếu tập thể dục làm tăng nguy cơ mắc chứng sa sút trí tuệ. Và mặc dù không có chế độ ăn kiêng cụ thể nào làm giảm nguy cơ, nhiều nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ mắc chứng mất trí nhớ cao hơn ở những người ăn chế độ ăn không lành mạnh so với những người theo chế độ ăn kiểu Địa Trung Hải giàu sản phẩm, ngũ cốc, hạt và hạt.
  • Uống nhiều rượu bia.
  • Yếu tố nguy cơ tim mạch bao gồm huyết áp cao (tăng huyết áp), cholesterol cao, tích tụ chất béo trong thành động mạch (xơ vữa động mạch) và béo phì.
  • Phiền muộn. Mặc dù cơ chế chưa được hiểu rõ nhưng trầm cảm ở giai đoạn cuối đời có thể cho thấy sự phát triển của chứng sa sút trí tuệ.
  • Bệnh tiểu đường có thể làm tăng nguy cơ mắc chứng sa sút trí tuệ, đặc biệt là khi bệnh tiểu được được kiểm soát kém.
  • Hút thuốc. Hút thuốc có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh sa sút trí tuệ và các bệnh về mạch máu
  • Hội chứng ngưng thở khi ngủ.
  • Thiếu vitamin và dinh dưỡng. Hàm lượng vitamin D, vitamin B-6, vitamin B-12 và folate thấp có thể làm tăng nguy cơ mắc chứng sa sút trí tuệ.

Các biện pháp chẩn đoán 

Để chẩn đoán bệnh sa sút trí tuệ, bác sĩ sẽ xem xét tiền sử bệnh tật và các triệu chứng hiện tại của người bệnh và tiến hành kiểm tra thể chất. Không có xét nghiệm đơn lẻ nào có thể chẩn đoán chứng sa sút trí tuệ, vì vậy các bác sĩ có khả năng chỉ định một số xét nghiệm có thể giúp xác định chính xác vấn đề.

Đánh giá nhận thức và thần kinh

Các bác sĩ sẽ đánh giá chức năng tư duy (nhận thức) của người bệnh. Một số bài kiểm tra đo lường các kỹ năng tư duy, như trí nhớ, định hướng, lý luận và phán đoán, kỹ năng ngôn ngữ và sự chú ý.

Đánh giá thần kinh bằng cách đánh giá trí nhớ, ngôn ngữ, nhận thức thị giác, sự chú ý, giải quyết vấn đề, chuyển động, giác quan, cân bằng, phản xạ và các lĩnh vực khác.

Chụp não

Chụp CT hoặc MRI. Những kỹ thuật này có thể phát hiện các dấu hiệu của đột quỵ hoặc chảy máu hoặc khối u hoặc tràn dịch não.

PET scan cho thấy các mô hình hoạt động của não và tìm mảng protein amyloid, một dấu hiệu đặc trưng của bệnh Alzheimer.

Xét nghiệm trong phòng thí nghiệm

Xét nghiệm máu có thể phát hiện các vấn đề về thể chất có thể ảnh hưởng đến chức năng não, chẳng hạn như thiếu vitamin B-12 hoặc tuyến giáp hoạt động kém. Đôi khi dịch não tủy được kiểm tra xem có tình trạng nhiễm trùng, viêm hoặc dấu hiệu của một số bệnh thoái hóa.

Đánh giá tâm thần

Chuyên gia sức khỏe tâm thần có thể xác định liệu trầm cảm hoặc một tình trạng sức khỏe tâm thần khác đang góp phần vào các triệu chứng sa sút trí tuệ.

6 cách ngăn ngừa bệnh Alzheimer bằng dinh dưỡng

Bệnh Alzheimer là một bệnh thoái hóa thần kinh tiến triển, gây chứng mất trí nhớ dần dần. Những thực phẩm giúp ngăn ngừa bệnh Alzheimer bạn nên nhớ sau đây.

Bệnh Alzheimer (Sa sút trí tuệ) là bệnh thoái hóa thần kinh tiến triển, gây mất trí nhớ dần dần. Đây là một trong những bệnh phổ biến nhất của người cao tuổi, và là nguyên nhân gây chết người đứng hàng thứ tư. Bệnh Alzheimer thường được chẩn đoán khá muộn, khi những tổn thương thần kinh không thể hồi phục dù điều trị tích cực. Gần đây, các phương pháp hình ảnh tiên tiến như MRI cấu trúc, MRI chức năng và PET đã giúp chẩn đoán Alzheimer rất sớm, trước khi có dấu hiệu bệnh lý lâm sàng.

Alzheimer là căn bệnh về thần kinh thường gặp ở người già. Hiện nay, bệnh đang có xu hướng trẻ hóa. Thực tế cho thấy 50 % người trẻ bị mắc các bệnh về trí nhớ, trong đó gần 30 % là do Alzheimer gây nên.

Tuy nhiên, các triệu chứng của bệnh nó có thể được giảm nhẹ với việc sử dụng các loại thuốc nhất định. Một số biện pháp dinh dưỡng có khả năng ngăn ngừa bệnh Alzheimer đã được nghiên cứu như sau:

  1. Ăn nhiều trái cây và rau

Một nghiên cứu thuần tập dựa vào dân số của 1.836 người Mỹ lớn tuổi gốc Nhật cho thấy rằng: tiêu thụ trái cây và nước rau ép góp phần giảm tỷ lệ của bệnh Alzheimer trong 7-9 năm tiếp theo.

ngan-ngua-benh-Alzheimer-medihome

  1. Dùng các loại quả mọng

Các loại quả mọng có chứa hàm lượng cao các thành phần hoạt tính sinh học, trong đó có một hợp chất được gọi là anthocyanoside, có tác dụng chống suy giảm trí nhớ liên quan tới các gốc tự do và mảng bám beta-amyloid trong não. Ăn các loại quả mọng mỗi ngày sẽ mang lại lợi ích tối đa cho não và giúp bạn có trí nhớ tốt hơn.

Các loại quả mọng chứa nhiều chất chống oxy hóa cho phép các tế bào não hoạt động hiệu quả hơn, đồng thời giúp ngăn ngừa các chứng viêm. Nghiên cứu đã chứng minh, ăn dâu và việt quất giúp tăng cường chức năng não bộ. Một nghiên cứu khác cũng cho thấy những người ăn quả mọng có nguy cơ mắc bệnh Alzheimer hay chứng suy giảm trí nhớ thấp hơn.

  1. Tăng cường Axit béo omega-3

Trong nghiên cứu tim mạch Framingham, Hoa Kỳ cho thấy những cá nhân với nồng độ axit docosahexaenoic (DHA) ở mức tứ phân vị cao có tỷ lệ mắc bệnh Alzheimer thấp hơn trong 9 năm tiếp theo. Axit béo omega-3 có nhiều trong các loại cá như cá hồi, cá thu, cá ngừ.

ngan-ngua-benh-Alzheimer-medihome

  1. Hãy bổ sung axit folic để ngăn gừa bệnh Alzheimer

Nếu bạn không bổ sung, hoặc ăn không đủ thực phẩm giàu folate có thể ảnh hưởng đến chức năng nhận thức. Nghiên cứu cho thấy nồng độ homocysteine ​​cao có thể liên quan tới chức năng nhận thức kém.

Một số nghiên cứu chỉ ra rằng việc giảm homocysteine ​​bằng cách dùng axit folic có thể làm tăng chức năng nhận thức.

Axit folic có nhiều trong cam, cải bó xôi, măng tây, sữa, bông cải xanh, lòng đỏ trứng, đậu tương, khoai tây, ngũ cốc thô và quả bơ.

  1. Rượu vang đỏ hoặc nước ép nho tím

Uống một ly rượu vang đỏ hoặc nước ép nho tím với bữa ăn tối của bạn. Ngoài tác dụng bảo vệ tim mạch, các thành phần trong vỏ nho bảo vệ tế bào não khỏi các tác dụng độc hại của stress oxy hóa và beta amyloid.

ngan-ngua-benh-Alzheimer-medihome

Nguồn: Prevention

Ngăn ngừa chứng mất trí nhớ theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa ra hướng dẫn đầu tiên tổng hợp các biện pháp cụ thể để ngăn ngừa chứng mất trí nhớ. Đồng thời kêu gọi các quốc gia hãy tích cực cải thiện lối sống, giảm nguy cơ mắc chứng mất trí nhớ và suy giảm nhận thức.

Chứng suy giảm nhận thức tăng gấp 3 lần trong vòng 30 năm

Theo WHO, khi tích cực áp dụng các thói quen tập thể dục, bỏ thuốc lá, giảm rượu bia, ăn uống lành mạnh, kiểm soát tốt lượng cholesterol và lượng đường trong máu… sẽ giúp giảm bớt nguy cơ mắc bệnh mất trí nhớ.

Tedros Adhanom Ghebreyesus, Giám đốc WHO cho biết: “Trong vòng 30 năm tới, số người mắc chứng mất trí nhớ trên thế giới dự kiến sẽ tăng gấp 3 lần và chúng ta nên hành động ngay khi có thể để giảm nguy cơ mắc chứng mất trí nhớ”.

Chứng mất trí nhớ xuất phát từ các nguyên nhân như chấn thương, mắc bệnh Alzheimer và đột quỵ… Các tác nhân này sẽ tác động xấu đến quá trình hoạt động của não, ảnh hưởng đến suy nghĩ, hành vi, khả năng phân tích, tính toán, học tập, ngôn ngữ và phán đoán.

Theo báo cáo, mỗi năm có khoảng 10 triệu người mất trí nhớ. Khi bệnh phát triển, não sẽ bị tổn thương, rất khó để phục hồi về trạng thái ban đầu.

Bên cạnh đó, căn bệnh này có chi phí chữa trị lớn, không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân người bệnh mà còn đối với cả xã hội, gây tổn thất về mặt kinh tế. Theo dự kiến, ở Nhật, với xu hướng phát sinh rất nhiều trường hợp này có thể khiến chi phí tăng lên 220 nghìn tỷ yên Nhật vào năm 2030. Căn bệnh đang phát triển nhanh chóng và được coi là một vấn đề sức khỏe mang tính cộng đồng.

Biện pháp cải thiện làm giảm nguy cơ mắc chứng mất trí nhớ

WHO đưa ra một số phương pháp giảm nguy cơ mắc chứng mất trí nhớ và suy giảm nhận thức như sau:

  1. Tập thể dục và hoạt động thể chất

Đây nên là ưu tiên hàng đầu trong đời sống của mỗi người. Người cao tuổi từ 65 trở lên nên tập thể dục với cường độ trung bình khoảng 150 phút/tuần, hoặc cường độ cao hơn là 75 phút/ tuần. Mỗi ngày, nên tập thể dục nhịp điệu liên tục trong ít nhất 10 phút.

  1. Thực hiện chế độ ăn uống lành mạnh

Các bác sĩ khuyên mọi người nên ăn nhiều rau, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt như kê, gạo lứt, các loại đậu, các loại hạt, bổ sung 400gram rau và trái cây mỗi ngày.

Đối với những người đang hấp thụ 2.000 kcal mỗi ngày, giảm lượng đường ngọt xuống dưới 5% và lượng chất béo giảm xuống 30%. Tốt nhất nên kiểm soát thực phẩm có chứa protein như thịt bò, thịt lợn, giảm muối xuống 5g mỗi ngày.

  1. Kiểm soát cân nặng thích hợp với những người béo phì

Những người béo phì được khuyến khích giảm cân bằng chế độ ăn cân bằng dinh dưỡng. Chỉ số Glycemia (GI) là chỉ số phản ánh tốc độ tăng đường huyết sau khi ăn thực phẩm giàu chất bột đường. Ví dụ chỉ số GI là 100, lấy đó làm mức tiêu chuẩn để tính tốc độ tăng đường huyết của từng loại thực phẩm khi cùng ăn một lượng giống nhau. Có những báo cáo rằng thực phẩm có chỉ số GI thấp rất có lợi trong việc kiểm soát cân nặng. Ngoài ra, người bị béo phì cũng nên chăm vận động như chạy bộ để giảm thời gian ngồi trong cuộc sống hàng ngày.

  1. Những người bị huyết áp cao nên được điều trị thích hợp theo hướng dẫn của WHO

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc không điều trị huyết áp cao sẽ gây ra chứng mất trí. Tăng huyết áp có thể được ngăn ngừa và cải thiện bằng cách thay đổi lối sống như thực hiện chế độ ăn uống lành mạnh, duy trì cân nặng hợp lý và tập thể dục thường xuyên. Ngoài ra, chúng ta có thể kiểm soát huyết áp như tiếp nhận các điều trị của bác sĩ, uống thuốc hạ huyết áp, vì vậy việc điều trị là vô cùng quan trọng.

  1. Những người mắc bệnh tiểu đường nên được điều trị thích hợp và tích cực cải thiện thói quen sống

Mặc dù hiện nay vẫn chưa có cơ chế cụ thể chứng minh mối liên hệ giữa bệnh tiểu đường và mất trí nhớ, tuy nhiên đã có một vài báo cáo cho thấy, bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường có nguy cơ mất trí cao nếu không kiểm soát đường huyết. Các biến chứng như bệnh thận đái tháo đường, bệnh võng mạc, khiếm thính và bệnh tim mạch làm tăng nguy cơ mắc chứng mất trí nhớ.

Tích cực kiểm soát đường huyết và điều trị cholesterol cao, huyết áp cao có thể làm giảm nguy cơ mắc chứng mất trí nhớ.

  1. Không hút thuốc

Hút thuốc không chỉ gây hại cho sức khỏe mà còn kéo theo nguy cơ suy giảm chức năng nhận thức và mất trí nhớ.

  1. Không nên bổ sung quá nhiều thực phẩm có chứa vitamin B, E, axit béo không no, vitamin tổng hợp
  2. Giảm mức tối đa các đồ uống có cồn

Bên cạnh các kiến nghị trên, mọi người cũng nên tạo ra nhiều mối quan hệ và nâng cao sức khỏe tinh thần.

Đặc biệt trên thế giới, sự thiếu thốn về mặt tài chính, cơ sở vật chất trong việc chăm sóc trị liệu cho bệnh mất trí nhớ đang là vấn đề lớn. Tuy nhiên,  chúng ta có thể thực hiện nhiều nỗ lực khác nhau để giảm các yếu tố rủi ro gây ra chứng mất trí nhớ. WHO đang kêu gọi các nước thiết lập biện pháp để chống lại chứng mất trí nhớ.

Nguồn: WHO

Hội chứng suy giảm trí nhớ (bệnh Alzheimer) là gì ?

Bệnh Alzheimer là một trong những căn bệnh về não gây ảnh hưởng đến suy nghĩ, hành vi và trí nhớ của người bệnh. Bệnh được một bác sĩ người Đức tên là Alois Alzheimer phát hiện lần đầu tiên vào năm 1907.

Đây không phải là căn bệnh lão khoa hoặc bệnh thần kinh thông thường. Bệnh Alzheimer gây ảnh hưởng không chỉ đối với người bệnh mà còn tác động đến cả người đi chăm sóc bệnh nhân bởi lẽ chăm sóc bệnh nhân Alzheimer rất dễ dẫn đến trầm cảm hoặc có cảm xúc vô cùng căng thẳng.

Ngoài tuổi tác, một số yếu tố khác cũng làm tăng nguy cơ bị bệnh này bao gồm:

  • Nữ giới
  • Có cha mẹ hoặc anh chị em ruột bị bệnh này
  • Tiền sử chấn thương đầu
  • Đã bị hội chứng Down

Nguyên nhân bệnh Alzheimer

Hiện nay vẫn chưa xác định nguyên nhân gây ra bệnh Alzheimer cụ thể như thế nào, các nhà khoa học chỉ có thể xác định, khi bị bệnh alzheimer là lúc các tế bào não lưu trữ và xử lý thông tin bắt đầu bị suy yếu và chết. Ngoài ra, các protein bất thường được sản sinh ra, tạo nên những mảng bám và tích tụ quanh và bên trong các tế bào gây cản trở đến quá trình truyền tải thông tin.

Triệu chứng bệnh

Triệu chứng đầu tiên là đãng trí, bị quên tên hoặc nơi vừa đặt đồ vật, hay còn gọi là bệnh mất trí nhớ alzheimer

Trí nhớ và tư duy bất thường, có thể quên tên người quen, hỏi cùng một câu hỏi, kể cùng một câu chuyện nhiều lần, khó khăn trong ghi nhớ mọi thứ trong cuộc sống.

Ở những giai đoạn sau, người bệnh sẽ cần giúp đỡ nhiều hơn từ người xung quanh và cần có một chế độ chăm sóc đặc biệt toàn diện bởi lẽ bệnh nhân bị Alzheimer giai đoạn cuối thường đi lang thang hoăc bị lạc, thay đổi tính cách cảm xúc.

Khi có bất kỳ các dấu hiệu bất thường trên, cần kịp thời đến cơ sở y tế để được kịp thời phát hiện bệnh và có phương pháp điều trị kịp thời, tránh những tình huống xấu xảy ra.

Bảng phân biệt triệu chứng giảm trí nhớ trong bệnh Alzheimer và ở người già bình thường

Bệnh nhân Alzheimer

Người già bình thường

Thường quên toàn bộ các sự kiện 

VD: không thể nhớ đã ăn trưa chưa?

Thường quên một phần của sự kiện

VD: nhớ đã ăn trưa rồi nhưng không thể nhớ đã ăn tráng miệng bằng loại trái cây nào

Hiếm khi nhớ lại sau đó

Thường nhớ lại sau đó

Thường phủ nhận sự suy giảm trí nhớ và tìm cách che giấu nó như tìm cách thay đổi chủ đề câu hỏi, nói đùa …

Sẵn sàng chấp nhận sự giảm sút trí nhớ và thường yêu cầu người khác giúp mình nhớ lại.

Các kỹ năng như đọc, viết thường giảm sút nặng nề.

Các kỹ năng này thường còn nguyên vẹn.

Thường không thể tuân theo các hướng dẫn bằng lời nói hay chử viết

Có thể tuân theo các hướng dẫn bằng lời nói hay chữ  viết

Không thể sử dụng các ghi chép nhắc nhở

Có thể sử dụng các ghi chép nhắc nhở

Giảm khả năng tự chăm sóc bản thân ngày càng tăng

Thường đủ khả năng tự chăm sóc bản thân

Đối tượng nguy cơ bệnh Alzheimer

Đây là một căn bệnh khá phổ biến, thường thấy ở những người cao tuổi. Những người có rối loạn não bẩm sinh hoặc bị chấn thương cũng có nguy cơ cao bị bệnh. Hiện nay, một bộ phận giới trẻ cũng đang bị đe dọa bởi bệnh Alzheimer.

Những yếu tố sau sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer:

  • Tuổi tác: những người cao tuổi, đặc biệt sau 65 tuổi sẽ có nguy cơ cao mắc bệnh;
  • Gia đình có người từng có tiền sử mắc bệnh Alzheimer. Các nhà khoa học đã nghiên cứu và chứng minh gen làm tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer nhưng không chứng minh chắc chắn rằng cá thể mang gen đó sẽ tiến triển thành bệnh
  • Những người có tiền căn chấn thương đầu hoặc bị suy giảm nhận thức nhẹ;
  • Những người có lối sống không khoa học như: sử dụng các chất kích thích, chế độ ăn thiếu rau xanh và trái cây, ít vận động.
  • Những người trong quá trình học tập và giao tiếp gặp một số vấn đề về mức độ giáo dục chính quy thấp, công việc thiếu các hoạt động cần thử thách trí não hoặc ít giao tiếp xã hội.

Trong các nguy cơ trên, yếu tố nguy cơ được nhắc đến nhiều nhất là tuổi tác. Bệnh Alzheimer ở người cao tuổi trở nên rất phổ biến.