Bài viết

Triệu chứng của bệnh sa sút trí tuệ là gì?

Bệnh sa sút trí tuệ mô tả một nhóm các triệu chứng ảnh hưởng đến trí nhớ, suy nghĩ và khả năng xã hội đủ nghiêm trọng để ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của người mắc phải. Đây không phải là một bệnh cụ thể, nhưng một số bệnh khác nhau cũng có thể gây ra chứng sa sút trí tuệ.

Mặc dù sa sút trí tuệ nói chung liên quan đến mất trí nhớ, mất trí nhớ có những nguyên nhân khác nhau. Nếu chỉ có triệu chứng mất trí nhớ thì không có nghĩa là người đó bị sa sút trí tuệ.

Bệnh Alzheimer là nguyên nhân phổ biến nhất của chứng mất trí tiến triển ở người lớn tuổi, nhưng có một số nguyên nhân khác cũng gây sa sút trí tuệ. Tùy thuộc vào nguyên nhân, một số triệu chứng sa sút trí tuệ có thể hồi phục.

Triệu chứng bệnh Bệnh sa sút trí tuệ

Các triệu chứng khác nhau tùy thuộc vào nguyên nhân, nhưng các dấu hiệu và triệu chứng phổ biến bao gồm:

  • Thay đổi nhận thứ
  • Mất trí nhớ
  • Khó giao tiếp hoặc tìm từ
  • Khó khăn với khả năng thị giác và không gian, chẳng hạn như bị lạc trong khi lái xe
  • Khó khăn trong việc suy luận hoặc giải quyết vấn đề
  • Khó xử lý các nhiệm vụ phức tạp
  • Khó khăn với việc lập kế hoạch và tổ chức

  • Khó khăn với sự phối hợp và chức năng vận động
  • Nhầm lẫn và mất phương hướng
  • Thay đổi tâm lý
  • Thay đổi tính cách
  • Phiền muộn
  • Lo âu
  • Hành vi không phù hợp
  • Chứng hoang tưởng
  • Kích động
  • Ảo giác

Khi nào đi khám bác sĩ?

Gặp bác sĩ sớm nếu người bệnh hoặc người thân có vấn đề về trí nhớ hoặc các triệu chứng sa sút trí tuệ. Một số phương pháp điều trị hay bệnh đều có thể gây ra các triệu chứng sa sút trí tuệ, vì vậy điều quan trọng là cần xác định nguyên nhân.

Đường lây truyền bệnh Bệnh sa sút trí tuệ

Bệnh sa sút trí tuệ không phải là bệnh truyền nhiễm, do đó, không lây truyền từ người mắc bệnh sang người khỏe mạnh.

Đối tượng nguy cơ bệnh Bệnh sa sút trí tuệ

Có rất nhiều yếu tố cuối cùng có thể góp phần vào chứng sa sút trí tuệ và các yếu tố nguy cơ này được chia thành hai nhóm:

Các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi

  • Tuổi tác. Nguy cơ tăng lên khi già đi, đặc biệt là sau 65 tuổi. Tuy nhiên, chứng sa sút trí tuệ không phải là một phần bình thường của lão hóa và chứng mất trí nhớ có thể xảy ra ở những người trẻ tuổi.
  • Tiền sử gia đình. Có tiền sử gia đình mắc chứng sa sút trí tuệ khiến thế hệ sau có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Tuy nhiên, nhiều người có tiền sử gia đình không bao giờ phát triển các triệu chứng và nhiều người không có tiền sử gia đình nhưng lại bị bệnh
  • Hội chứng Down. Ở tuổi trung niên, nhiều người mắc hội chứng Down khởi phát bệnh Alzheimer sớm so với người bình thường.

Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi

Bạn có thể kiểm soát các yếu tố nguy cơ sau đây:

  • Ăn kiêng và tập thể dục. Nghiên cứu cho thấy thiếu tập thể dục làm tăng nguy cơ mắc chứng sa sút trí tuệ. Và mặc dù không có chế độ ăn kiêng cụ thể nào làm giảm nguy cơ, nhiều nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ mắc chứng mất trí nhớ cao hơn ở những người ăn chế độ ăn không lành mạnh so với những người theo chế độ ăn kiểu Địa Trung Hải giàu sản phẩm, ngũ cốc, hạt và hạt.
  • Uống nhiều rượu bia.
  • Yếu tố nguy cơ tim mạch bao gồm huyết áp cao (tăng huyết áp), cholesterol cao, tích tụ chất béo trong thành động mạch (xơ vữa động mạch) và béo phì.
  • Phiền muộn. Mặc dù cơ chế chưa được hiểu rõ nhưng trầm cảm ở giai đoạn cuối đời có thể cho thấy sự phát triển của chứng sa sút trí tuệ.
  • Bệnh tiểu đường có thể làm tăng nguy cơ mắc chứng sa sút trí tuệ, đặc biệt là khi bệnh tiểu được được kiểm soát kém.
  • Hút thuốc. Hút thuốc có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh sa sút trí tuệ và các bệnh về mạch máu
  • Hội chứng ngưng thở khi ngủ.
  • Thiếu vitamin và dinh dưỡng. Hàm lượng vitamin D, vitamin B-6, vitamin B-12 và folate thấp có thể làm tăng nguy cơ mắc chứng sa sút trí tuệ.

Các biện pháp chẩn đoán 

Để chẩn đoán bệnh sa sút trí tuệ, bác sĩ sẽ xem xét tiền sử bệnh tật và các triệu chứng hiện tại của người bệnh và tiến hành kiểm tra thể chất. Không có xét nghiệm đơn lẻ nào có thể chẩn đoán chứng sa sút trí tuệ, vì vậy các bác sĩ có khả năng chỉ định một số xét nghiệm có thể giúp xác định chính xác vấn đề.

Đánh giá nhận thức và thần kinh

Các bác sĩ sẽ đánh giá chức năng tư duy (nhận thức) của người bệnh. Một số bài kiểm tra đo lường các kỹ năng tư duy, như trí nhớ, định hướng, lý luận và phán đoán, kỹ năng ngôn ngữ và sự chú ý.

Đánh giá thần kinh bằng cách đánh giá trí nhớ, ngôn ngữ, nhận thức thị giác, sự chú ý, giải quyết vấn đề, chuyển động, giác quan, cân bằng, phản xạ và các lĩnh vực khác.

Chụp não

Chụp CT hoặc MRI. Những kỹ thuật này có thể phát hiện các dấu hiệu của đột quỵ hoặc chảy máu hoặc khối u hoặc tràn dịch não.

PET scan cho thấy các mô hình hoạt động của não và tìm mảng protein amyloid, một dấu hiệu đặc trưng của bệnh Alzheimer.

Xét nghiệm trong phòng thí nghiệm

Xét nghiệm máu có thể phát hiện các vấn đề về thể chất có thể ảnh hưởng đến chức năng não, chẳng hạn như thiếu vitamin B-12 hoặc tuyến giáp hoạt động kém. Đôi khi dịch não tủy được kiểm tra xem có tình trạng nhiễm trùng, viêm hoặc dấu hiệu của một số bệnh thoái hóa.

Đánh giá tâm thần

Chuyên gia sức khỏe tâm thần có thể xác định liệu trầm cảm hoặc một tình trạng sức khỏe tâm thần khác đang góp phần vào các triệu chứng sa sút trí tuệ.

Ngăn ngừa chứng mất trí nhớ theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa ra hướng dẫn đầu tiên tổng hợp các biện pháp cụ thể để ngăn ngừa chứng mất trí nhớ. Đồng thời kêu gọi các quốc gia hãy tích cực cải thiện lối sống, giảm nguy cơ mắc chứng mất trí nhớ và suy giảm nhận thức.

Chứng suy giảm nhận thức tăng gấp 3 lần trong vòng 30 năm

Theo WHO, khi tích cực áp dụng các thói quen tập thể dục, bỏ thuốc lá, giảm rượu bia, ăn uống lành mạnh, kiểm soát tốt lượng cholesterol và lượng đường trong máu… sẽ giúp giảm bớt nguy cơ mắc bệnh mất trí nhớ.

Tedros Adhanom Ghebreyesus, Giám đốc WHO cho biết: “Trong vòng 30 năm tới, số người mắc chứng mất trí nhớ trên thế giới dự kiến sẽ tăng gấp 3 lần và chúng ta nên hành động ngay khi có thể để giảm nguy cơ mắc chứng mất trí nhớ”.

Chứng mất trí nhớ xuất phát từ các nguyên nhân như chấn thương, mắc bệnh Alzheimer và đột quỵ… Các tác nhân này sẽ tác động xấu đến quá trình hoạt động của não, ảnh hưởng đến suy nghĩ, hành vi, khả năng phân tích, tính toán, học tập, ngôn ngữ và phán đoán.

Theo báo cáo, mỗi năm có khoảng 10 triệu người mất trí nhớ. Khi bệnh phát triển, não sẽ bị tổn thương, rất khó để phục hồi về trạng thái ban đầu.

Bên cạnh đó, căn bệnh này có chi phí chữa trị lớn, không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân người bệnh mà còn đối với cả xã hội, gây tổn thất về mặt kinh tế. Theo dự kiến, ở Nhật, với xu hướng phát sinh rất nhiều trường hợp này có thể khiến chi phí tăng lên 220 nghìn tỷ yên Nhật vào năm 2030. Căn bệnh đang phát triển nhanh chóng và được coi là một vấn đề sức khỏe mang tính cộng đồng.

Biện pháp cải thiện làm giảm nguy cơ mắc chứng mất trí nhớ

WHO đưa ra một số phương pháp giảm nguy cơ mắc chứng mất trí nhớ và suy giảm nhận thức như sau:

  1. Tập thể dục và hoạt động thể chất

Đây nên là ưu tiên hàng đầu trong đời sống của mỗi người. Người cao tuổi từ 65 trở lên nên tập thể dục với cường độ trung bình khoảng 150 phút/tuần, hoặc cường độ cao hơn là 75 phút/ tuần. Mỗi ngày, nên tập thể dục nhịp điệu liên tục trong ít nhất 10 phút.

  1. Thực hiện chế độ ăn uống lành mạnh

Các bác sĩ khuyên mọi người nên ăn nhiều rau, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt như kê, gạo lứt, các loại đậu, các loại hạt, bổ sung 400gram rau và trái cây mỗi ngày.

Đối với những người đang hấp thụ 2.000 kcal mỗi ngày, giảm lượng đường ngọt xuống dưới 5% và lượng chất béo giảm xuống 30%. Tốt nhất nên kiểm soát thực phẩm có chứa protein như thịt bò, thịt lợn, giảm muối xuống 5g mỗi ngày.

  1. Kiểm soát cân nặng thích hợp với những người béo phì

Những người béo phì được khuyến khích giảm cân bằng chế độ ăn cân bằng dinh dưỡng. Chỉ số Glycemia (GI) là chỉ số phản ánh tốc độ tăng đường huyết sau khi ăn thực phẩm giàu chất bột đường. Ví dụ chỉ số GI là 100, lấy đó làm mức tiêu chuẩn để tính tốc độ tăng đường huyết của từng loại thực phẩm khi cùng ăn một lượng giống nhau. Có những báo cáo rằng thực phẩm có chỉ số GI thấp rất có lợi trong việc kiểm soát cân nặng. Ngoài ra, người bị béo phì cũng nên chăm vận động như chạy bộ để giảm thời gian ngồi trong cuộc sống hàng ngày.

  1. Những người bị huyết áp cao nên được điều trị thích hợp theo hướng dẫn của WHO

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc không điều trị huyết áp cao sẽ gây ra chứng mất trí. Tăng huyết áp có thể được ngăn ngừa và cải thiện bằng cách thay đổi lối sống như thực hiện chế độ ăn uống lành mạnh, duy trì cân nặng hợp lý và tập thể dục thường xuyên. Ngoài ra, chúng ta có thể kiểm soát huyết áp như tiếp nhận các điều trị của bác sĩ, uống thuốc hạ huyết áp, vì vậy việc điều trị là vô cùng quan trọng.

  1. Những người mắc bệnh tiểu đường nên được điều trị thích hợp và tích cực cải thiện thói quen sống

Mặc dù hiện nay vẫn chưa có cơ chế cụ thể chứng minh mối liên hệ giữa bệnh tiểu đường và mất trí nhớ, tuy nhiên đã có một vài báo cáo cho thấy, bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường có nguy cơ mất trí cao nếu không kiểm soát đường huyết. Các biến chứng như bệnh thận đái tháo đường, bệnh võng mạc, khiếm thính và bệnh tim mạch làm tăng nguy cơ mắc chứng mất trí nhớ.

Tích cực kiểm soát đường huyết và điều trị cholesterol cao, huyết áp cao có thể làm giảm nguy cơ mắc chứng mất trí nhớ.

  1. Không hút thuốc

Hút thuốc không chỉ gây hại cho sức khỏe mà còn kéo theo nguy cơ suy giảm chức năng nhận thức và mất trí nhớ.

  1. Không nên bổ sung quá nhiều thực phẩm có chứa vitamin B, E, axit béo không no, vitamin tổng hợp
  2. Giảm mức tối đa các đồ uống có cồn

Bên cạnh các kiến nghị trên, mọi người cũng nên tạo ra nhiều mối quan hệ và nâng cao sức khỏe tinh thần.

Đặc biệt trên thế giới, sự thiếu thốn về mặt tài chính, cơ sở vật chất trong việc chăm sóc trị liệu cho bệnh mất trí nhớ đang là vấn đề lớn. Tuy nhiên,  chúng ta có thể thực hiện nhiều nỗ lực khác nhau để giảm các yếu tố rủi ro gây ra chứng mất trí nhớ. WHO đang kêu gọi các nước thiết lập biện pháp để chống lại chứng mất trí nhớ.

Nguồn: WHO

Những điều cần biết về Hội chứng mất trí nhớ

Mất trí nhớ là một hội chứng bệnh lý về não ngày càng phổ biến hiện nay, nó gây ảnh hưởng nhiều đến chức năng cao cấp của vỏ não như suy giảm trí nhớ, tư duy, định hướng, nhận biết ngôn ngữ, phán đoán các năng lực học tập, xã hội nhưng ý thức bệnh nhân không bị rối loạn. Những  suy giảm này thường tiến triển theo thời gian và khó hồi phục, gây suy sụp đáng kể chức năng trí tuệ cũng như các vận động trong sinh hoạt hàng ngày.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thống kê , hiện trên thế giới có khoảng 35,6 triệu người mắc chứng mất trí nhớ, trong đó chủ yếu là các nước có thu nhập thấp và trung bình. Con số này dự kiến sẽ tăng gấp đôi lên 65,7 triệu người vào năm 2030 và tăng hơn gấp 3 lần lên 115,4 triệu người vào năm 2050.

hoi-chung-benh-mat-tri-nho-medihome

Bệnh mất trí nhớ này diễn biến ngày càng xấu đi, tuy nhiên vấn đề này nhìn chung vẫn chưa được quan tâm đúng mức, tính tới thời điểm hiện tại chỉ có 1/8 số nước trên thế giới có chương trình quốc gia nhằm giải quyết căn bệnh này. Do đó để giảm gánh nặng của căn bệnh này, WHO đã kêu gọi các nước trên thế giới phải nâng cao khả năng phát hiện sớm, cung cấp những chăm sóc y tế và xã hội cần thiết về chứng mất trí nhớ.

Bệnh mất trí nhớ có nhiều dạng khác nhau,nó được phân loại tùy theo những dấu hiệu, triệu chứng và hậu quả của căn bệnh tác động đến người bệnh, trong đó có mất trí nhớ tạm thời, mất trí nhớ sau sinh (hơn 90% phụ nữ sau sinh mắc bệnh lý này), mất trí nhớ người già,..

Mất trí nhớ tạm thời hay còn gọi là mất trí nhớ ngắn hạn, nó là  một cơn mất trí nhớ tạm thời, đột ngột mà không do một tình trạng thần kinh phổ biến nào gây ra, như bệnh động kinh hoặc đột quỵ. Trong cơn mất trí nhớ tạm thời này bệnh nhân không thể nhớ lại các sự kiện vừa mới diễn ra, không thể nhớ mình đang ở đâu hoặc đã đến đó bằng cách nào.

Nguyên nhân bệnh Mất trí nhớ

Nguyên nhân mất trí nhớ chủ yếu do:

  • Bệnh Alzheimer
  • Đột quỵ nhiều lần ( ” mất trí nhớ do mạch máu não”)
  • Rượu
  • Chấn thương đầu
  • Các khối u não
  • Hydrocephalus (nước trên não)
  • Bệnh Parkinson (nhưng không phải tất cả các bệnh Parkinson đều đưa đến mất trí)
  • Nhiễm trùng như viêm màng não, AIDS và một số loại vi-rút
  • Thiếu Vitamin (đặc biệt là vitamin B12)
  • Xáo trộn nội tiết như một under-gland tuyến giáp đang hoạt động

Trong đó 2 nguyên nhân quan trọng gây nên bệnh mất trí nhớ hiện nay là Bệnh Alzheimer và Đột quỵ nhiều lần (” mất trí nhớ do mạch máu não”).

Triệu chứng bệnh Mất trí nhớ

Triệu chứng mất trí nhớ bao gồm:

  • Suy giảm trí nhớ: Triệu chứng này thường xuất hiện sớm, đặc trưng và nổi bật. Suy giảm trí nhớ có thể xuất hiện cấp trong chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não và thường xuất hiện từ từ nhưng có khả năng tiến triển ngày càng nặng trong các bệnh lý thoái triển khác.
  • Suy giảm các khả năng hoạt động nhận thức khác: thường biểu hiện với bệnh lý vong ngôn, vong tri, vong hành và suy giảm một số năng lực khác như suy giảm khả năng tư duy trừu tượng, khả năng sáng tạo, lập kế hoạch hành động; mất khả năng phối hợp, điều hành các hành vi, thực hiện các hoạt động phức tạp trong cuộc sống thường nhật.

Vong ngôn với các triệu chứng nói lặp từ, nói định hình, nói gián tiếp, lời nói mơ hồ, khó khăn trong việc tìm từ, gọi tên đồ vật…; trường hợp nặng có thể mất khả năng nhận thức và đáp ứng bằng ngôn ngữ.

Vong tri với các triệu chứng như suy giảm hoặc mất khả năng nhận ra và gọi tên các đồ vật cũng như các đối tượng quen thuộc.

Vong hành với triệu chứng như không thể làm được các thao tác trong công việc hàng ngày, không vẽ lại được một hình vẽ theo yêu cầu; khó khăn trong việc mặc quần áo, đi giày, chải tóc, tắm rửa, vệ sinh cá nhân, tiểu tiện, đại tiện và một số kỹ năng sống thường ngày.

  • Giảm hoặc mất khả năng hoạt động nghề nghiệp và giao tiếp xã hội: Đây là hậu quả của triệu chứng suy giảm trí nhớ và suy giảm các khả năng hoạt động nhận thức khác kéo dài.
  • Các triệu chứng loạn thần với trạng thái hoang tưởng thường gặp, sau đó đến ảo giác: Những hoang tưởng này thường xảy ra không có hệ thống, chỉ lẻ tẻ và nhất thời. Trạng thái tri giác sai thực tại cũng thường hay gặp, nhất là ở những bệnh nhân mất trí Alzheimer.
  • Các rối loạn cảm xúc: thường gặp là chứng trầm cảm, có khoảng 25% ở các bệnh nhân bị mất trí. Ngoài ra còn có các rối loạn cảm xúc khác như dễ bị kích thích, cáu giận, có cơn kêu khóc qua đêm
  • Các rối loạn hành vi: Khi tình trạng bệnh trở nặng, bệnh nhân sẽ bị rối loạn chu kỳ giấc ngủ, đôi khi có các cơn co giật kiểu động kinh, dáng điệu đờ đẫn hoặc nằm một chỗ với tư thế của thai nhi.

Đối tượng nguy cơ bệnh Mất trí nhớ

Mất trí nhớ có thể xảy ra ở bất cứ đối tượng nào, từ nam đến nữ, từ già đến trẻ, tuy nhiên nó thường xảy ra ở người già và phụ nữ đặc biệt là phụ nữ sau sinh. Một số đối tượng nguy cơ mắc bệnh mất trí nhớ bao gồm:

  • Phổ biến nhất là những người trên 65 tuổi (bệnh lý mất trí nhớ người già), đôi khi nó vẫn có thể gặp ở những người trẻ hơn từ 30 đến 50 tuổi.
  • Người lạm dụng bia rượu, stress.
  • Bệnh nhân bị chấn thương não, tai biến mạch máu não,…
  • Phòng ngừa bệnh Mất trí nhớ
  • Chế độ ăn uống hợp lý, bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng, các vitamin cần thiết cho cơ thể đặc biệt là vitamin B12, ăn nhiều rau xanh.
  • Tập thể dục mỗi ngày với các bài tập nhẹ nhàng, vừa sức như đi bộ, tập yoga,…
  • Ngủ đủ giấc, không nên thức quá khuya.
  • Cần cân bằng giữa chế độ làm việc và nghỉ ngơi, không nên làm việc quá sức, tránh tình trạng stress xảy ra.
  • Tránh sử dụng các đồ uống và các chất kích thích có hại đến sức khỏe như rượu bia, thuốc lá, ma túy,…

Các biện pháp chẩn đoán bệnh Mất trí nhớ

Đánh giá dựa trên các biểu hiện lâm sàng đã nêu trong phần triệu chứng như suy giảm trí nhớ, Suy giảm các khả năng hoạt động nhận thức khác, rối loạn cảm xúc, hành vi,…

Đánh giá dựa vào các trắc nghiệm tâm lý.

Điện não đồ (EEG): Kỹ thuật này giúp ghi lại hoạt động điện của não thông qua các điện cực gắn vào da đầu, điện não đồ này thường thể hiện rõ ở những bệnh nhân mắc động kinh.

Chụp X-quang sọ não.

  • Chụp điện toán cắt lớp (CT): Giúp thấy được những bất thường trong cấu trúc não, bao gồm các mạch máu bị hẹp, bị kéo giãn quá mức hoặc bị vỡ và các đột quỵ xảy ra trong quá khứ.
  • Chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI) giúp phát hiện tình trạng teo não và các tổn thương khu trú ở não, phân biệt mất trí do Alzheimer hay do bệnh mạch máu não.
  • Chụp cắt lớp bằng cách phóng các hạt positron PET (positron emission tomography) giúp chẩn đoán phân biệt các tổn thương ở thùy đỉnh trong bệnh Alzheimer hoặc phát hiện các biến đổi của thùy trán trong các bệnh lý thoái hóa thùy trán.
  • Chụp ảnh chức năng não SPECT: Giúp phát hiện sự giảm lưu lượng máu não đến các thùy thái dương và thùy đỉnh trong bệnh Alzheimer và sự  giảm lưu lượng máu mang tính chất loang lổ rải rác hơn đối với bệnh nhân bị mất trí do các bệnh lý mạch máu não.

Các biện pháp điều trị bệnh Mất trí nhớ

Các phương pháp để điều trị mất trí nhớ bao gồm:

  • Cân nhắc sử dụng thuốc an thần kinh, chống trầm cảm, giải lo âu khi bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng loạn thần, rối loạn hành vi, tuy nhiên trong quá trình sử dụng các loại thuốc trên cần theo dõi khả năng dung nạp thuốc kém của người bệnh và những tác dụng phụ của thuốc.
  • Sử dụng một số thuốc có tác dụng duy trì trí nhớ và khả năng nhận thức như các loại thuốc dinh dưỡng thần kinh, tăng cường chuyển hóa, tuần hoàn não; đặc biệt là các thuốc tác dụng trên hệ thần kinh cholinergic trong điều trị bệnh Alzheimer như tacrine, donepezil, rivastigmine…
  • Áp dụng các phương pháp điều trị như vật lý trị liệu, trị liệu nghề nghiệp, các liệu pháp ngôn ngữ và cách nói chuyện nhằm giúp cải thiện các vấn đề về vận động, công việc hàng ngày và giao tiếp của bệnh nhân.
  • Cần có sự hỗ trợ, quan tâm, chăm sóc đặc biệt của người nhà đối với các bệnh nhân mất trí nhớ, theo dõi chặt chẽ để đảm bảo bệnh nhân không bị ngã, mất ý thức hoặc phản ứng tiêu cực với thuốc, luôn an ủi và dỗ dành người bệnh trong thời gian họ bị nhầm lẫn, hoang tưởng hoặc có ảo giác.
  • Trị liệu tâm lý cho bệnh nhân, khuyến khích bệnh nhân chơi các trò chơi như Sudoku, trò chơi ô chữ nhằm kích thích não.
  • Tập thể dục thường xuyên 30 phút mỗi ngày với các bài tập thư giãn, nhẹ nhàng và nên có một chế độ ăn uống lành mạnh.

Hội chứng suy giảm trí nhớ (bệnh Alzheimer) là gì ?

Bệnh Alzheimer là một trong những căn bệnh về não gây ảnh hưởng đến suy nghĩ, hành vi và trí nhớ của người bệnh. Bệnh được một bác sĩ người Đức tên là Alois Alzheimer phát hiện lần đầu tiên vào năm 1907.

Đây không phải là căn bệnh lão khoa hoặc bệnh thần kinh thông thường. Bệnh Alzheimer gây ảnh hưởng không chỉ đối với người bệnh mà còn tác động đến cả người đi chăm sóc bệnh nhân bởi lẽ chăm sóc bệnh nhân Alzheimer rất dễ dẫn đến trầm cảm hoặc có cảm xúc vô cùng căng thẳng.

Ngoài tuổi tác, một số yếu tố khác cũng làm tăng nguy cơ bị bệnh này bao gồm:

  • Nữ giới
  • Có cha mẹ hoặc anh chị em ruột bị bệnh này
  • Tiền sử chấn thương đầu
  • Đã bị hội chứng Down

Nguyên nhân bệnh Alzheimer

Hiện nay vẫn chưa xác định nguyên nhân gây ra bệnh Alzheimer cụ thể như thế nào, các nhà khoa học chỉ có thể xác định, khi bị bệnh alzheimer là lúc các tế bào não lưu trữ và xử lý thông tin bắt đầu bị suy yếu và chết. Ngoài ra, các protein bất thường được sản sinh ra, tạo nên những mảng bám và tích tụ quanh và bên trong các tế bào gây cản trở đến quá trình truyền tải thông tin.

Triệu chứng bệnh

Triệu chứng đầu tiên là đãng trí, bị quên tên hoặc nơi vừa đặt đồ vật, hay còn gọi là bệnh mất trí nhớ alzheimer

Trí nhớ và tư duy bất thường, có thể quên tên người quen, hỏi cùng một câu hỏi, kể cùng một câu chuyện nhiều lần, khó khăn trong ghi nhớ mọi thứ trong cuộc sống.

Ở những giai đoạn sau, người bệnh sẽ cần giúp đỡ nhiều hơn từ người xung quanh và cần có một chế độ chăm sóc đặc biệt toàn diện bởi lẽ bệnh nhân bị Alzheimer giai đoạn cuối thường đi lang thang hoăc bị lạc, thay đổi tính cách cảm xúc.

Khi có bất kỳ các dấu hiệu bất thường trên, cần kịp thời đến cơ sở y tế để được kịp thời phát hiện bệnh và có phương pháp điều trị kịp thời, tránh những tình huống xấu xảy ra.

Bảng phân biệt triệu chứng giảm trí nhớ trong bệnh Alzheimer và ở người già bình thường

Bệnh nhân Alzheimer

Người già bình thường

Thường quên toàn bộ các sự kiện 

VD: không thể nhớ đã ăn trưa chưa?

Thường quên một phần của sự kiện

VD: nhớ đã ăn trưa rồi nhưng không thể nhớ đã ăn tráng miệng bằng loại trái cây nào

Hiếm khi nhớ lại sau đó

Thường nhớ lại sau đó

Thường phủ nhận sự suy giảm trí nhớ và tìm cách che giấu nó như tìm cách thay đổi chủ đề câu hỏi, nói đùa …

Sẵn sàng chấp nhận sự giảm sút trí nhớ và thường yêu cầu người khác giúp mình nhớ lại.

Các kỹ năng như đọc, viết thường giảm sút nặng nề.

Các kỹ năng này thường còn nguyên vẹn.

Thường không thể tuân theo các hướng dẫn bằng lời nói hay chử viết

Có thể tuân theo các hướng dẫn bằng lời nói hay chữ  viết

Không thể sử dụng các ghi chép nhắc nhở

Có thể sử dụng các ghi chép nhắc nhở

Giảm khả năng tự chăm sóc bản thân ngày càng tăng

Thường đủ khả năng tự chăm sóc bản thân

Đối tượng nguy cơ bệnh Alzheimer

Đây là một căn bệnh khá phổ biến, thường thấy ở những người cao tuổi. Những người có rối loạn não bẩm sinh hoặc bị chấn thương cũng có nguy cơ cao bị bệnh. Hiện nay, một bộ phận giới trẻ cũng đang bị đe dọa bởi bệnh Alzheimer.

Những yếu tố sau sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer:

  • Tuổi tác: những người cao tuổi, đặc biệt sau 65 tuổi sẽ có nguy cơ cao mắc bệnh;
  • Gia đình có người từng có tiền sử mắc bệnh Alzheimer. Các nhà khoa học đã nghiên cứu và chứng minh gen làm tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer nhưng không chứng minh chắc chắn rằng cá thể mang gen đó sẽ tiến triển thành bệnh
  • Những người có tiền căn chấn thương đầu hoặc bị suy giảm nhận thức nhẹ;
  • Những người có lối sống không khoa học như: sử dụng các chất kích thích, chế độ ăn thiếu rau xanh và trái cây, ít vận động.
  • Những người trong quá trình học tập và giao tiếp gặp một số vấn đề về mức độ giáo dục chính quy thấp, công việc thiếu các hoạt động cần thử thách trí não hoặc ít giao tiếp xã hội.

Trong các nguy cơ trên, yếu tố nguy cơ được nhắc đến nhiều nhất là tuổi tác. Bệnh Alzheimer ở người cao tuổi trở nên rất phổ biến.