Bài viết

Tiêm vắc xin phòng COVID-19 ở phụ nữ mang thai – Những bằng chứng khoa học

Theo Hướng dẫn mới nhất của Bộ Y tế, phụ nữ mang thai từ 13 tuần trở lên có thể tiêm vắc xin phòng COVID-19, ngoại trừ vắc xin Sputnik-V. Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy đây là một quyết định hợp lý.

Ngày 10/8, Bộ Y tế ban hành Quyết định 3802/QĐ-BYT về Hướng dẫn tạm thời Khám sàng lọc trước khi tiêm vaccine phòng COVID-19, trong đó có bổ sung, điều chỉnh một số nhóm đối tượng trong khám sàng lọc trước tiêm vaccine phòng COVID-19.

Theo quyết định mới, phụ nữ đang cho con bú, mang thai từ 13 tuần trở lên vẫn có thể tiêm vaccine COVID-19 với các loại vaccine COVID-19 khác, ngoại trừ Sputnik-V.

Nguy cơ cho phụ nữ mang thai trong đại dịch COVID-19

Mặc dù nguy cơ bị bệnh nặng nói chung là thấp, nhưng phụ nữ mang thai có nguy cơ bị bệnh nặng do COVID-19 cao hơn khi so sánh với những người không mang thai. Theo đó nguy cơ có thể liệt kê ở đây bao gồm: Người bệnh cần nhập viện; cần chăm sóc đặc biệt; cần phải thở máy hoặc thiết bị đặc biệt để thở; hoặc bệnh nặng dẫn đến tử vong.

Ngoài ra, phụ nữ mang thai mắc COVID-19 có nguy cơ sinh non cao hơn và có nhiều nguy cơ bất lợi khác trong thai kỳ so với phụ nữ mang thai không mắc COVID-19.

Dữ liệu về sự an toàn và hiệu quả của việc tiêm vắc xin phòng COVID-19 trong khi mang thai

Bằng chứng về tính an toàn và hiệu quả của việc tiêm phòng COVID-19 trong thai kỳ mặc dù còn hạn chế, nhưng ngày càng nhiều hơn. Sau đây là những tổng hợp kết quả các nghiên cứu, do Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC) Hoa Kỳ đưa ra làm bằng chứng cho khuyến cáo phụ nữ mang thai nên tiêm phòng vắc xin COVID-19.

CDC Hoa Kỳ đã công bố dữ liệu đầu tiên của Hoa Kỳ về sự an toàn của việc tiêm vaccine mRNA COVID-19 trong thời kỳ mang thai. Báo cáo đã phân tích dữ liệu từ ba hệ thống giám sát an toàn tại chỗ để thu thập thông tin về việc tiêm phòng COVID-19 trong thai kỳ. Những dữ liệu ban đầu này không tìm thấy bất kỳ mối lo ngại nào về an toàn cho những phụ nữ mang thai đã được tiêm chủng hoặc thai nhi của họ. Một báo cáo khác đã xem xét những phụ nữ mang thai được tiêm phòng COVID-19 với vaccine mRNA trước 20 tuần của thai kỳ. Các nhà khoa học không tìm thấy nguy cơ sẩy thai tăng lên ở những người này.

Trong các nghiên cứu với vắc xin Moderna, Pfizer-BioNTech hoặc Johnson & Johnson (J&J) / Janssen trước đó được thực hiện trên động vật, các nhà nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng cho mối lo ngại nào về an toàn ở đối tượng thí nghiệm đang mang thai hoặc con của chúng.

Tương tự, những thử nghiệm lâm sàng trên người, sử dụng vaccine vecter virus (như J&J / Janssen) cũng cho thấy, không có kết quả bất lợi nào liên quan đến thai nghén.

Cụ thể là vắc xin COVID-19 đã được tiêm cho những phụ nữ mang thai ở tất cả các tam cá nguyệt của thai kỳ, cùng với thử nghiệm chủng ngừa Ebola một cách quy mô. Không có kết quả bất lợi nào liên quan đến thai nghén, bao gồm cả những kết quả bất lợi ảnh hưởng đến em bé, liên quan đến việc tiêm chủng trong những thử nghiệm này.

Các nghiên cứu cũng xóa bỏ lo ngại vắc xin COVID-19 có thể gây bệnh cho phụ nữ mang thai hoặc thai nhi: Không có vắc xin COVID-19 nào chứa virrus sống gây bệnh COVID-19 nên vắc xin COVID-19 không thể làm cho bất kỳ ai bị bệnh với COVID-19, kể cả phụ nữ mang thai hoặc trẻ sơ sinh.

Một nghiên cứu gần đây ở Israel đã so sánh tỷ lệ mắc bệnh COVID-19 ở những phụ nữ mang thai được tiêm vaccin mRNA (Moderna, Pfizer) với những người không tiêm. Các nhà khoa học xác nhận rằng tiêm phòng làm giảm đáng kể nguy cơ lây nhiễm SARS-CoV-2 ở phụ nữ mang thai.

Tiêm phòng cho phụ nữ mang thai tạo ra các kháng thể có thể bảo vệ em bé của họ: Trong nghiên cứu, phụ nữ mang thai được tiêm vắc xin COVID-19 mRNA và cơ thể của họ đã tạo ra kháng thể chống lại COVID-19, tương tự như những người không mang thai.

Các kháng thể sau đó được tìm thấy trong máu dây rốn. Điều này có nghĩa là tiêm chủng COVID-19 trong khi mang thai có thể giúp bảo vệ trẻ sơ sinh chống lại COVID-19. Tuy nhiên, các nhà khoa học thấy vẫn cần có thêm dữ liệu để xác định xem những kháng thể này có thể bảo vệ em bé như thế nào.

Những thử nghiệm lâm sàng bổ sung nghiên cứu tính an toàn và mức độ hoạt động của của vắc xin COVID-19 ở phụ nữ mang thai vẫn đang tiếp tục được tiến hành. Các nhà sản xuất vắc xin cũng đang thu thập và xem xét dữ liệu từ những thử nghiệm lâm sàng trên phụ nữ đã tiêm đủ liều vắc xin và mang thai.

Với những kết quả nghiên cứu ban đầu nói trên, một lần nữa cho thấy, lợi ích của tiêm vắc xin COVID-19 vượt trội hơn bất kỳ nguy cơ nào của việc tiêm chủng ngừa trong thời kỳ mang thai. Và vì vậy, phụ nữ mang thai nên cân nhắc tiêm vắc xin phòng COVID-19 để bảo vệ bản thân và con của mình trong đại dịch.

Nguồn: Suckhoedoisong

Cách chăm sóc sức khỏe tinh thần trong mùa đại dịch COVID-19

Bộ Y tế Việt Nam phối hợp cùng Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa ra những hướng dẫn cụ thể nhằm giúp người dân chăm sóc sức khỏe tinh thần trong mùa đại dịch COVID-19. Mọi người hãy cùng chia sẻ đến cộng đồng để chúng ta có thể giữ vững tinh thần, vượt qua đại dịch này nhé.

Một cuộc khảo sát của Hiệp hội Tâm lý học Trung Quốc thực hiện vào cuối tháng 3/2020 cho thấy, 18.000 người được chẩn đoán về sức khỏe tinh thần: hội chứng lo lắng liên quan đến sự bùng phát dịch COVID-19, hơn 5.000 người được đánh giá rối loạn căng thẳng sau sang chấn tâm lý; trong đó có 21,5% có biểu hiện rối loạn rõ rệt.

Trong một cuộc thăm dò tại Mỹ hồi đầu tháng 4 cũng chỉ ra rằng, có khoảng 45% số người được hỏi nói rằng lo lắng hoặc căng thẳng liên quan đến đại dịch COVID-19, dịch bệnh đã tác động tiêu cực đến sức khỏe tâm thần của họ, có 32% người được hỏi cho rằng, họ có những biểu hiện đó từ giữa tháng 3.

Theo cuộc thăm dò nữa của Hiệp hội Tâm thần Mỹ tiến hành từ tháng 3, gần một nửa số người Mỹ lo lắng về khả năng nhiễm virus SARS-CoV-2 gây bệnh COVID-19 và 62% lo lắng về người thân bị bệnh. Do đó các chuyên gia nhấn mạnh rằng, trong thời gian này, điều quan trọng là phải duy trì việc tự chăm sóc sức khỏe tinh thần và quản lý căng thẳng của mỗi người.

cham soc suc khoe tinh than mua dich Covid-19

cham soc suc khoe tinh than mua dich Covid-19 medihome

bao ve suc khoe tinh than mua dich Covid-19 medihome 

Nguồn: WHO, Bộ Y tế Việt Nam

Đi siêu thị mùa COVID-19: Làm sao để tránh lây nhiễm?

Trong thời gian dịch bệnh COVID-19 đang diễn biến phức tạp, nếu bắt buộc phải đến những nơi đông người như trung tâm thương mại, siêu thị, chợ, mỗi cá nhân hãy tự bảo vệ mình.

Theo Cục Quản lý môi trường y tế, Bộ Y tế, bệnh viêm đường hô hấp cấp do vi rút SARS-CoV-2 (COVID-19) là bệnh truyền nhiễm cấp tính, có khả năng lây lan nhanh từ người sang người theo đường hô hấp, qua các giọt nước bọt hay dịch tiết mũi họng khi người bệnh ho, hắt hơi, hoặc lây qua tiếp xúc với một số đồ vật có chứa vi rút rồi qua bàn tay đưa lên mắt, mũi, miệng.

Đến nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và vắc xin phòng bệnh. Vì vậy, một trong các biện pháp quan trọng để phòng chống dịch bệnh là công tác vệ sinh, khử khuẩn đối với cá nhân, gia đình và cộng đồng để hạn chế tối đa sự lây nhiễm vi rút qua tiếp xúc với bề mặt, vật dụng bị nhiễm vi rút.

Mặc dù theo khuyến cáo của Bộ Y tế, người dân cần hạn chế đến chỗ đông người để phòng chống dịch COVID-19. Trong thời gian dịch bệnh COVID-19 đang diễn biến phức tạp, nếu bắt buộc phải đến những nơi đông người như chợ, trung tâm thương mại, siêu thị, mỗi cá nhân hãy tự bảo vệ mình bằng cách thực hiện các nội dung sau:

Luôn phải vệ sinh tay: đây là biện pháp đơn giản mà rất hiệu quả trong phòng chống dịch bệnh.

Rửa tay thường xuyên với xà phòng và nước sạch. Các thời điểm rửa tay cần thiết là sau khi ho, hắt hơi; sau khi cầm, nắm, tiếp xúc với các vật dụng có nguy cơ như: nút bấm thang máy, tay nắm cửa, tay vịn cầu thang, tay vịn lan can…; sau khi đi vệ sinh; sau khi vệ sinh cho trẻ; trước khi ăn; khi bàn tay bẩn, trước khi vào và sau khi ra khỏi khu dịch vụ. Có thể rửa tay bằng nước với xà phòng hoặc dùng dung dịch sát khuẩn tay.

Luôn che mũi, miệng khi ho hoặc hắt hơi, tốt nhất bằng khăn vải hoặc khăn giấy. Tuyệt đối không được khạc nhổ bừa bãi. Vứt bỏ khăn giấy che mũi, miệng vào thùng rác và rửa sạch tay.

Hãy rửa tay sạch trước khi chạm vào các món hàng. Trong lúc lựa chọn mua hàng, chú ý hạn chế dùng tay đưa lên mũi, miệng, mắt hay chạm vào khẩu trang. Nên mua đủ đồ dùng cần thiết, không tập trung chỗ đông người và hạn chế tiếp xúc càng nhiều người càng tốt.

Luôn phải đeo khẩu trang và biết cách sử dụng khẩu trang đúng cách theo hướng dẫn của Bộ Y tế TẠI ĐÂY. Cách tốt nhất là đeo khẩu trang ngay khi ra khỏi nhà và chỉ tháo bỏ khi về đến nhà. Nếu có yêu cầu tháo khẩu trang cũng phải thực hiện đúng cách. Trừ khẩu trang có thể giặt sạch phơi khô tiệt trùng, các loại khẩu trang khác chỉ nên sử dụng một lần và tháo bỏ ngay khẩu trang sau khi sử dụng vào thùng rác.

Trong thời gian mua sắm: Hãy thực hiện quy tắc 2 mét.

Theo quy định hiện tại, hãy đảm bảo giữ khoảng cách tối thiểu 2 mét khi giao tiếp và không nên tụ tập thành nhóm. Hiện tại, ở quầy thu ngân một số siêu thị đã có vạch đánh dấu vị trí đứng của khách hàng. Mỗi vị trí này đều cách nhau 2 mét theo đúng hướng dẫn.

Không vào khu dịch vụ nếu có các biểu hiện sốt hoặc ho, khó thở, mệt mỏi hoặc nếu đang trong thời gian cách ly tại nhà theo yêu cầu của cơ quan y tế. Trong thời gian ở khu dịch vụ, nếu bản thân thấy có biểu hiện sốt hoặc ho, khó thở, đau họng hãy thông báo ngay cho người làm việc tại đây để được hướng dẫn và hỗ trợ.

Chỉ đi mua sắm khi thực sự cần: Đi siêu thị mỗi ngày trong mùa dịch Covid-19 có thể làm tăng nguy cơ lây nhiễm virus. Vì thế, hãy chỉ đi siêu thị 1 tuần 1 lần. Nhưng cũng đừng quá hoảng loạn mà tích trữ lương thực trong cả tháng, để đảm bảo đủ đồ ăn cho tất cả mọi người. Hơn nữa, đồ ăn cũng dễ ôi thiu nếu tích trữ quá lâu.

Lựa chọn thực phẩm tăng sức đề kháng. Lưu ý bổ sung các thực phẩm có khả năng cải thiện hệ thống miễn dịch, tăng sức đề kháng cho cơ thể. Thịt, cá, nấm, rau bina, các loại rau lá xanh đậm, hoa quả giàu vitamin C, các loại sữa chua, mật ong là những thực phẩm được khuyến khích. Rửa tay sạch khi chế biến thức ăn, nấu chín kỹ, không dùng tay bốc thức ăn.

Mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức trách nhiệm vì cộng đồng, thực hiện theo các khuyến cáo của Bộ Y tế đối với bản thân và các khu dịch vụ để góp phần phòng chống dịch bệnh COVID-19.

Người cao tuổi cần ăn, uống gì để tăng đề kháng chống lại COVID-19?

Theo thống kê về các đối tượng mắc bệnh COVID-19, thì người cao tuổi và người mắc bệnh mãn tính chiếm tỷ lệ cao, do sức đề kháng và miễn dịch kém hơn các đối tượng khác. Sức đề kháng và miễn dịch của con người được hình thành và phát triển kể từ khi họ được sinh ra, điều kiện quyết định để tạo ra sức đề kháng và miễn dịch khỏe mạnh là do chế độ dinh dưỡng lành mạnh, cân đối và lối sống.

Theo ThS. BS Nguyễn Văn Tiến – Viện Dinh dưỡng đối với người cao tuổi nhu cầu năng lượng của người 60 tuổi giảm đi 20%, ở người trên 70 tuổi giảm đi 30% so với người 25 tuổi.

Theo khuyến nghị với người cao tuổi:

  • Nhu cầu về năng lượng là từ 1700-1900 kcal/người/ngày.
  • Nhu cầu protein từ 60-70 gam/ngày, trong đó đạm động vật chiếm 30% tổng số protein.

Vì vậy, người cao tuổi nên:

  • Ăn ít thịt, thay vào đó là các thực phẩm giàu can xi như: cá, tôm, cua.
  • Ăn ít nhất 3 bữa cá/1 tuần, 3 quả trứng/1 tuần,
  • Ăn thêm sữa chua (dễ tiêu và có lợi cho tiêu hóa).
  • Sử dụng cả dầu thực vật và mỡ động vật, tỷ lệ chất béo thực vật chiếm 35% tổng lượng chất béo.
  • Luôn đảm bảo ăn 3-4 bữa mỗi ngày, ăn nóng, thức ăn nên luộc, hấp nấu chín mềm.
  • Nếu ăn không đủ nên uống thêm các loại sữa bổ sung dinh dưỡng, từ 1-2 cốc mỗi ngày.

Những người đang mắc các bệnh mạn tính: như đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh gout,… cần thực hiện nghiêm ngặt theo chỉ định của bác sỹ điều trị và bác sĩ dinh dưỡng về sử dụng thuốc điều trị thường xuyên và thực hiện chế độ dinh dưỡng bệnh lý.

Vai trò của một số vitamin và khoáng chất để nâng cao sức đề kháng và miễn dịch:

  • Vitamin A:

Có vai trò rõ rệt cả với miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào. Những nghiên cứu gần đây đã khẳng định rằng biện pháp bổ sung vitamin A có thể làm giảm 23% tử vong ở trẻ em. Thiếu vitamin A làm giảm sức đề kháng – miễn dịch tăng nguy cơ mắc bệnh nhiễm trùng và tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ em. Vitamin A có nhiều trong gấc, rau ngót rau dền cơm, gan gà, gan lợn, gan bò,…

  • Vitamin E:

Vitamin E làm tăng tính miễn dịch bằng cách bảo vệ tế bào khỏi bị tổn thương, do đó tăng sức đề kháng của cơ thể với các bệnh nhiễm khuẩn mạnh hơn, làm chậm tiến triển bệnh sa sút trí tuệ (Alzheimer), bảo vệ vitamin A và chất béo của màng tế bào khỏi bị oxy hóa, tham gia vào chuyển hóa tế bào. Vitamin E bảo vệ các chất béo trong não khỏi các gốc tự do, đặc biệt là các chất béo omega-3 DHA và EPA, trong đó tập trung ở tế bào thần kinh. Vitamin E có nhiều trong các thực phẩm nguồn gốc tự nhiên: đậu tương, giá đỗ, vừng lạc, mầm lúa mạch, dầu hướng dương, dầu ô-liu và các loại rau có lá màu xanh đậm.

  • Vitamin C:

Thiếu vitamin C, sự nhạy cảm với các bệnh nhiễm khuẩn tăng lên, tính thấm mao mạch tăng, mạch dễ vỡ, da khô ráp. Nếu ăn đủ vitamin C, các glubulin miễn dịch IgA và IgM tăng, hoạt tính của bạch cầu tăng, kích thích chuyển dạng các lymphô bào và giúp tạo thành các bổ thể. Hơn 90% lượng vitamin C có trong khẩu phần ăn được cung cấp từ các loại trái cây và rau củ. Các thực phẩm giàu vitamin C: rau ngót, rau mùi tàu, rau dền, rau đay, rau mồng tời, hành hoa, …trong các loại quả như bưởi, đủ đủ, quýt, cam, chanh,…

  • Vitamin D:

Là một vitamin tan trong chất béo, có liên quan đến các chức năng khác nhau của hệ thống miễn dịch, tiêu hóa, tuần hoàn và thần kinh. Nguồn chính của vitamin D là tổng hợp ở da dưới ảnh hưởng của bức xạ tia cực tím mặt trời B (UV-B) chiếm 80-90% và khoảng 10-20% do chế độ ăn uống, do đó, mỗi ngày cần tắm nắng từ 15-30 phút, tăng cường sử dụng các thực phẩm giàu vitamin D như gan cá, lòng đỏ trứng, cá, hải sản… cho bữa ăn hàng ngày.

  • Vitamin nhóm B:

Trong các vitamin nhóm B, vai trò các folat và pyridoxin đáng chú ý hơn cả. Thiếu folat làm chậm sự tổng hợp của các tế bào tham gia vào các cơ chế miễn dịch. Tương tự như thiếu sắt, miễn dịch dịch thể ít bị ảnh hưởng hơn miễn dịch qua trung gian tế bào. Các vitamin nhóm B có nhiều trong cám gạo, ngũ cốc, các loại hạt đậu, mè, mầm lúa mì, tim, gan.

Vai trò của một số chất khoáng và miễn dịch.

Rất nhiều chất khoáng và vi khoáng tham gia vào miễn dịch, trong đó vai trò của sắt, kẽm được nghiên cứu nhiều hơn cả.

  • Sắt:

Sắt cần thiết cho tổng hợp AND, nghĩa là nó cần thiết cho quá trình phân bào. Ngoài ra sắt còn tham gia vào nhiều enzym can thiệp vào quá trình phân giải bên trong tế bào. Thiếu sắt, nhiễm khuẩn tăng. Sắt gây ảnh hưởng đến miễn dịch qua trung gian tế bào hơn là miễn dịch dịch thể. Sắt có nhiều trong mộc nhĩ, nấm hương, rau dền đỏ, đậu tương, tiết bò, bầu dục lợn, lòng đỏ trứng vịt, cua đồng,..

  • Kẽm:

Kẽm giúp tăng cường miễn dịch, giúp làm vết thương mau lành và giúp duy trì vị giác và khướu giác. Các thức ăn giàu kẽm như thịt, cá, tôm, sò, sữa, trứng, ngao, hàu,..

Giá trị dinh dưỡng có trong 100g của một số loại rau xanh và hoa quả như sau:

Trong các kết quả nghiên cứu cho thấy:

Rau xanh: rau ngót, rau đay, rau dền là những loại có gía trị dinh dưỡng cao, đồng đều về hàm lượng caroten, vitamin C  (179 – 64 – 52 mg%), hàm lượng sắt (2,8 – 2,5 – 2,1 mg%), giàu các muối khoáng, vi khoáng, lượng protein cao gấp 3 – 5 lần các loại rau khác (3 – 6 g%). Rau muống có giá trị dinh dưỡng trung bình (380 mcg% retinol; 2,8 mg% vitamin C; 1,2 mg% sắt).

Các loại rau gia vị như: mùi, tía tô, húng, thìa là,..có hàm lượng caroten cao và đồng đều hơn so với rau ăn và quả ngọt, cao nhất là tía tô, húng quế, ớt vàng, đồng thời chúng giàu sắt (1- 3 mg% ). Rau gia vị lại được sử dụng tươi sống không bị tổn thất dinh dưỡng qua nấu nướng, nên giá trị sử dụng các vitamin rất cao. Ngoài ra các rau gia vị còn cung cấp nguồn kháng sinh thực vật rất có giá trị.

Các loại quả chín màu vàng, đỏ, da cam như: đu đủ, hồng, dưa hấu, cam, quýt vàng có hàng lượng caroten khá cao và giàu sắt (0,9 – 1,2 mg%). Đặc biệt màng gấc tươi có hàm lượng caroten đặc biệt cao. Đây là một loại quả qúi được nhiều người quan tâm nghiên cứu về khả năng phòng bệnh thiếu vitamin A, chống oxy hoá và ung thư.

Nguồn: Suckhoedoisong